Đời bảo rằng nam chủ khí, nữ chủ huyết, nhân thế mà bảo rằng nam huyết thì trọng nữ huyết thì khinh, lại nói thêm là huyết của đàn ông khác huyết của đàn bà, nhưng không biết rằng huyết của đàn bà có nguyệt tín, đàn ông thì không có nguyệt tín, chỉ có thế là cái khác nhau mà thôi.

Cùng là huyết mà sao nữ giới có nguyệt tín, nam giới không có nguyệt tín?. Vì lý do nữ giới chủ huyết, huyết thuộc âm mà đi xuống. Sở dĩ đi được là nhờ khí vận mà đi vậy, đàn bà con gái lấy huyết làm chủ, phải nhờ khí để vận huyết, khí tức là thuỷ hoá ra, đã nói ra ở bài trước.

Chỗ khí huyết giao hội với nhau là ở trong bào thất ở dưới rốn, con trai gọi là Đan Điền, còn con gái gọi là huyết thất, đều do Can và Thận giữ gìn, đó là nơi tổng thể của khí huyết.

Khí sinh ra ở thuỷ mà hoá ra thuỷ, con trai lấy khí làm chủ. Cho nên huyết vào Đan Điền cũng theo thuỷ hoá mà biến làm thuỷ, bởi vì do huyết hoá ra co nên không phải là nước trong mà rất keo đặc, đó gọi là Thận tinh.

Khí của đàn bà con gái thì cũng hoá làm thuỷ, song đàn bà con gái lấy huyết làm chủ, cho nên khí ở trong huyết thất cũng theo huyết hoá mà biến làm huyết. Đấy gọi là nguyệt kinh, song ở trong huyết cũng có thuỷ dịch ở khí hoá ra, cho nên kinh nguyệt hay nguyệt tín cũng gọi là tín thuỷ vậy.

Vả lại, trước và sau khi hành kinh đêù có nước nhạt nhạt, vậy thì huyết phận của người nữ cũng nhờ thuỷ của khí phận để dẫn động và vận hành vậy. Biết như thế thì tinh của người nam thuộc khí thuộc thuỷ, mà bên trong cũng có khí có thuỷ cho nên người nam tinh loãng đó là huyết hư, người nữ bệnh kinh là do khí trệ vậy.

Hỏi rằng: Người nam chủ khí, người nữ chủ huyết, mà sự biến hoá ở bên trong như lời nói ấy, mà tại sao người nữ phải hành kinh, người nam tại sao lại không hành kinh?

Xin đáp rằng: Kinh do huyết thừa vậy, sinh cái mới từ bỏ cái cũ, đó là lẽ tự nhiên của trời đất. Cho nên trăng có tròn có khuyết, biển có lên có xuống, huyết của người nữ trừ bỏ cái cũ sinh ra cái mới, đó là điều hiển nhiên, dư thì trào ra, là đạo tròn thì phải khuyết vậy. Người nữ mỗi thánh hành kinh một lần là để tiết huyết thừa ra, huyết thì chủ tâm mà đi xuống, cho nên tiết xuống dưới mà làm ra kinh huyết vậy.

Người Nam tuy không có kinh mà nghiệm được, song cũng phải tiết cái thừa đi, người nam lấy khí làm chủ, khí chủ dương mà đi lên, cho nên huyết thừa không theo dưới mà tiết xuống, nhưng theo khí mà đi lên, khi mạch Xung Nhâm quanh môi cằm mà sinh ra râu ria, vậy râu ria ấy là do tiết huyết thừa ra vậy, vì thế người nữ có nguyệt tín mà không có râu ria, người nam có râu ria mà không có nguyệt tín vậy. Sở chủ khác nhau, sở chủ không giống nhau, lên xuống khác nhau chỉ lấy đấy để phân biệt mà thôi, nghĩa là từ Nội Kinh chứ không phải do tán luận vậy.

Đời bảo rằng: huyết của người nam nữ không giống như nhau thì không biết đạo biến hoá vậy, cần phải biết sự biến hoá vận hành khí huyết thuỷ hoả, thì mới trị đựơc bệnh của khí huyết thuỷ hoả sinh ra. Người nữ cần phải huyết tuần kinh, người nam cũng cần p0hải huyết tuần kinh, nếu huyết mất lối thường tức là huyết không tuần kinh. Ơ người nữ nếu không băng đới thì cũng không thụ thai được. Ơ người nam nếu không thổ nục thì cũng không thể khoẻ mạnh được, đến khi thất thường quá, thì người nữ mắc băng đới, người nam mắc thổ nục. Cho nên người nữ quí điều kinh, mà người nam cũng quí điều kinh, nhưng người nam thổ nục là huyết đi lên, người nữ băng đới là huyết đi xuống vậy, hoàn toàn không giống nhau. Song người nữ thổ nục cũng không khác người nam, người nam hạ huyết cũng không khác băng đới. Cho nên sách này tuy không phải là phụ khoa, mà những chứng nguyệt kinh thai sản nói rõ ràng đầy đủ, là muốn cho người đời thấy bệnh này mà hiễu bệnh khác, đễ trị huyết chứng càng thần hiệu vậy.

Lại nói thêm là: người nữ huyết ở bào trung, mỗi tháng thai đổi một lần, trừ cái cũ sinh cái mới, huyết trừ là huyết ứ, huyết này không tống khứ đi thì trở ngạy cho chuyển hoá cơ thể sinh huyết.

Phàm làm thầy thuốc phải thông hiễu phá huyết thông kinh, chỉ riêng một chứng thổ nục của trai gái, không biết hoá ứ sinh tân, không nghĩ rằng huyết ứ, không tống khứ đi, thì tân huyết không thể sinh ra được, xem nguyệt tín phá cựu sinh tân thì có thể biết vậy.

Đến như sang khoa trị mụn nhọt thì trước cũng phải phá hủ, sau đó mới sinh cơ, thịt thối không hoá đi thì thịt mới không thể nào sinh ra được, nếu như có ngòi mủ thì cần phải mở rộng thịt nát ra, bứng lấy ngòi mủ đi, thì mới khỏi được.

Trị chứng huyết nếu không khứ ứ mà bổ huyết thì khác gì người trị sang lở không thể hoá hủ mà cần sinh cơ vậy. Song không phải rằng khử ứ là một việc sinh tân lại là một việc khác, vì ứ huyết khứ đi thì tân huyết đãsinh ra, tân huyết sinh ra thì ứ huyết tự khử mà không xem cách vậy. Như nguyệt tín đi xuống là ứ huyết khứ đi vậy, bây giờ tân huyết đã mạnh, động trong huyết hải cho nên là thời gian thai nghén vậy. Không phải nguyệt tín đã hạ xuống rồi thì sau mới có sinh tân huyết. Biết thế thì biết phép khử ứ sinh tân, mà cũng biết cả sinh tân là phép khử ứ.

Cơ năng sinh huyết là như thế, mà gốc sinh ra huyết lại ở Tỳ Vị. Nội Kinh nói: Trung tiêu chịu khí, lấy trấp biến hoá ra đỏ ấy là huyết, nay đem một sự trông thấy mà nói sữa của đàn bà tức những thứ ăn uống mà Tỳ Vị hoá ra. Tức là Trung tiêu chịu khí để lấy trấp vậy, đàn bà nuôi con thì nguyệt tín không hành, vì trấp ấy đã làm sữa đễ nuôi con thì không biến ra huyết vậy. Đến khi cai sữa rồi thì trấp ấy biến hoá ra đỏ mà đi xuống làm kinh nguyệt.

Người ta điều biết rằng thôi nhũ (làm cho nhiều sữa) thì cần bổ Tỳ Vị, mà không biết rằng tư huyết, càng cần phải bổ Tỳ Vị, huyết tức là sữa vậy. Biết phép thôi nhũ thì biết phép bổ huyết, nhưng điều bổ Tỳ Vị cần phải phân biệt âm và dương, từ ông Lý Đông Viên về sau trọng Tỳ Vị, ấy chỉ biết chuyên bổ Tỳ dương mà không biết tư dưỡng Tỳ âm thì dương không đủ. Lẽ cố nhiên thuỷ cốc không hoá mà Tỳ âm không đủ thì thuỷ cốc cũng không hoá vậy. Ví như nấu cơm ở trong nồi, dưới nồi không có lửa, tất nhiên không chín cơmvậy. Tôi nhận thấy có người Tỳ hư không muốn ăn, dùng thuốc ấm thì lại giảm ăn thiêm, dùng thuốc mát thì lại ăn được. Tôi cũng nhận thấy người thôi nhũ dùng Kỳ Truật, Lộc Nhung thì sữa có nhiều. Cũng có khi người thôi nhũ dùng Kỳ, Truật, Lộc Nhung thì sữa lại ít thêm, là vì có người nên dùng, có người không nên dùng vậy. Vì thế nên bổ Tỳ dương thì Can Khương, Phụ Tử cũng hay sinh tân. Người nên bổ Tỳ âm thì Tri Mẫu, Thạch Cao cũng là thuốc khai vị. Phép bổ Tỳ dương người trước đã nói đủ, riêng phép bổ Tỳ âm, người xưa ít có phát minh, nay tôi mới nêu ra để biết rằng một dương không thiên lệch.

Bổ Tỳ âm để khai vị tiến thực là tôi lâm chứng mà biết ra. Mà mượn 3 chữ Tồn Tân Dịch của Thương Hàn Luận mà làm chứng cớ. Ngoài ra không đâu nói cả. Sau khi sách đã in thành bộ, tôi mới được xem Thái Tây Y Pháp, bên trong nói Vị tiêu hoá thức ăn là do Vị trấp cùng điềm nhục trấp (nước của Tỳ vào) khổ đãm trấp (nước mật) đầu vào tràng để hoá thức ăn, trấp ấy tức là tân dịch vậy.

Tây Y bàn vế tạng phủ phần nhiều nói về hình mà bỏ sót về lý, như điều này tuy nói về mật mà thực không trái với lý, có thể làm chứng cho lời nói của tôi nên biên chép ra đây.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc