Mụ vườn và lang vườn
BÌNH-NGUYÊN LỘC
NGUYỆT san Phương Đông muốn thấy quan sát và nhận xét của một người không chuyên môn, về những người trị bịnh mà cũng không chuyên môn. Vì thế mới có bài này. Nhưng chúng tôi xin định nghĩa danh từ dùng ở đây đề tránh gây ngộ nhận. Những ông thày Đông y không được nói tới trong bài này, vì đa số xem họ là những nhà chuyên môn. Vậy các vị Đông y ở làng mà có không giỏi đi nữa, cũng được chúng tôi chừa ra. Những người mà chúng tôi nói đến, được dân miền Nam gọi là thày thuốc Nam và phải hiều rằng Nam ở đây, không có nghĩa là Nam Việt, mà là Việt, đối lại với thày thuốc Bắc, mà ta phải hiều là các thầy thuốc đại học y khoa của Trung hoa.
Nam Việt
Bắc Trung hoa
Cụ Hải Thượng Lãn ông, mặc dầu đã nghiên cứu riêng, đã phát minh riêng, nhưng theo lối hiều trên đây, cụ là thày thuốc Bắc, vì cụ đã hành nghề với căn bản y lý của Trung hoa. Đó là những vị đa số đã quen gọi là Đông y, nhưng chúng tôi gọi khác cũng cử đề tránh ngộ nhận. Ở Đông phương có hai nền y học lớn: y học Ấn độ và y học Trung hoa. Nhưng ta chỉ biết có một thứ thì gọi các ông là Đông y, hơi xô bồ. Tôi gọi quý vị đó là Y sĩ theo y lý Trung hoa.
Các thày thuốc Nam, được tôi gọi là Việt y, vì họ tuyệt đối không biết y lý Trung hoa, và họ hành nghề theo hiều biết riêng của dân tộc ta, khác hần cụ Hải thượng Lãn ông. Như thế, cho rằng họ không là nhà chuyên môn thì quả bất công, bởi dầu giỏi, dầu dở, họ cũng phải có học nhiều năm. Nhưng không ai coi họ là nhà chuyên môn, tôi cũng đành phải theo thói quen của đa số. Cái mà tôi gọi là Việt y, hơi lớn lỗi, vì chưa có một hệ thống y lý nào hết mà tất cả đều qui lại ở được phầm. Tuy nhiên có những y lý không đúng thì cũng chẳng hơn gì là không có y lý; nên tôi cứ gọi cái đó là Việt y. Danh từ thầy thuốc Nam đã hơi dài, lại phải định nghĩa thành thử ở tên bài, chúng tôi tạm dùng danh từ Lang vườn, mặc dầu danh từ Lang vườn cũng được dùng đề gọi các vị Đông y ở nông thôn. Nhưng xin không kề tên bài mà chỉ kề nội dung của bài mà thôi. Những gì chuyên môn, đã được các nhà chuyên môn nói đến ở phần đầu. Đây là giới thiệu một cộng đồng mà thị dân không biết là có, nhưng rất quan trọng đối với nông dân.
MỤ VƯỜN
Trên kia, chúng tôi đã nói đến những người không chuyên môn, nhưng riêng các bà mụ vườn thì chuyên môn thật sự và có học hẳn hòi. Cải học của họ, riêng chúng tôi thấy là không đúng, nhưng quả thật họ có học. Và cái khoa mà họ đã học được, đã thành hệ thống, chứ không phải là họ hành động tùy hứng của mỗi cá nhân. Bà nào cũng làm y như thế cả. Có một điều này làm cho chúng tôi ngạc nhiên lắm là trong những câu chuyện mà quí vị Đông y nói với nhau về nghề nghiệp, quí vị không có đả động tới sản khoa, làm nhữ đó là một ngành riêng, không dính líu tới Đông y.
Chúng tôi cũng nghe nói tới nhiều tên sách Đông y, nhứt là bác sĩ Huard thì đã kè ra hết tất cả sách thuốc của Tàu từ cổ chí kim, với tên soạn giả, thời điểm sách được soạn, và nội dung của sách, nhưng tôi không nhớ là có thấy sách sản khoa trong quyền nghiên cứu đó.
Vài thứ thuốc mà các mụ vườn dùng thì đa số quí vị Đông y không biết, nhờ tìm tòi riêng, chớ không phải nhờ sách vở. Thuốc ấy hình như thuộc loại bí truyền.
Công việc đầu tiên. Các bà mụ vườn miền Nam thường làm công việc này trước nhất, và hay lạm dụng, trong nhiều trường hợp không cần thiết Họ cho sản phụ uống thuốc «giục». Những thiếu khụ sanh con so luồn luôn chuyển bụng lâu lắm, lắm cô chuyền bụng 24 tiếng đồng hồ mà không sanh đẻ gì hết. Trong trường hợp ấy, người nhà của sản phụ sốt ruột và các bà mụ vườn thường cho uống thuốc giục, đề lấy uy tín là mình tài thánh, cải thiên nhiên được. Đó là thuốc thật sự chớ không phải là bủa chủ của thày phủ thủy, và là loại thuốc bí truyền mà có vài vị Đông y không biết. Theo cuộc
điều tra của chúng tôi như thế này:
1/ Loại thuốc ấy có tác động trên cơ thể của con người không phù hợp với ý muốn của các bà mụ vườn và với gia đình của sản phụ. Thuốc làm cho người uống thuốc mắc rặn, kề cả đàn ông nữa, nếu họ uống lầm thuốc đó. Nhưng chỉ có thể thôi chớ không sanh đẻ gì hết. Một vài nhà chuyên môn mà chúng tôi hỏi ý kiến, họ có khám những sản phụ uống thuốc giục, rồi vì lẽ đó được đưa vô nhà thương.
2/ Nhà chuyên môn khám và thấy rằng cửa tử cung không có nở trong khi người uống thuốc cứ tiếp tục mắc rặn. Vậy đó là một dược chất mà tác động chỉ có nửa chừng, tức gây ra sự mắc rặn, mà không làm cho cửa tử cung nở. Như thế thì thiếu phụ uống thuốc, không đẻ được, không có gì đáng ngạc nhiên.
3/ Những người uống thuốc mà không đẻ được, khi được chở tới nhà thương, thường thì đã đuối sức vì sự rặn quá nhiều giờ, làm cho họ mệt.
4/ Nhưng đó là trường hợp ít xảy ra, bởi thường thì đề con so, không phải luôn luôn chuyên bụng suốt 24 tiếng đồng hồ, mà chỉ là 7,8 tiếng. Các bà mụ chỉ cho uống thuốc 3-4 tiếng đồng sau khi sản phụ bắt đầu đau đẻ. Rồi thì tự nhiên các cô sanh, sau đó, và thuốc xem là hiệu nghiệm thật sự, nhưng nó chỉ là sự trùng phùng tình cờ của công việc tự nhiên với việc uống thuốc. Chúng tôi nghe nhiều vị Đông y không tán thành việc sử dụng loại thuốc bí truyền đó.
Môn thuốc thứ nhì. – Món thuốc thử nhì mà các bà mụ vườn thường cho uống, được toàn thể Đông y đều biết. Đó là vị Tôi hồng hoa, một loại hoa của một thứ cỏ, có dược tánh làm cho lưu huyết (emménagogue). Các bác sĩ Tây y thường kêu trời vì hậu quả tai hại của Tài-hồng-hoa Số sản phụ uống Tài hồng hoa được chở vào nhà thương có thể lên đến 30 phần trăm. Vì thuốc đó gây lưu huyết quả mạnh, sản phụ sanh để tốt lành, bỗng hóa ra chứng lưu huyết một cách nhơn tạo, mà kẻ cho uống thuốc lại không biết thuốc cầm huyết lại. Trị liệu đó căn cứ trên một thành kiến lâu đời không biết rõ ở Trung Bắc ra sao, nhưng ở miền Nam thì như thế này: máu để là máu độc cần phải cho nó lưu ra càng nhiều càng tốt, sau khi đứa hài nhi lọt khỏi lòng mẹ. Chúng tôi cho là thành kiến, là có ý kiến riêng của một kẻ không chuyên môn mà biết suy luận, chở không rõ y học Đồng phương nghĩ sao vì chúng tôi không có học khoa đó. Theo chúng tôi thì nếu quả máu để mà có độc đi chăng nữa, thì phải trị bằng thuốc lọc máu, chở trị như thế, còn gì sản phụ. Nhưng cũng cứ suy luận, chúng tôi thấy rằng không làm sao mà máu ấy lại độc được.
Trong các thử Tài hồng hoa, có loại Tây tạng hồng hoa quả mạnh, bà mụ vườn nào dùng chất Tây tạng hồng hoa thì thường khi sản phụ được đưa vào nhà thương.
Công việc thứ ba. – Công việc thứ ba của các bà mụ vườn đúng hay sai, thì cũng chỉ có các nhà chuyên môn là có quyền cho ý kiến, nhưng nó làm cho chúng tôi kinh tởm hết sức.
Các bà mụ vườn thò tay vào tới họng của đứa trẻ sơ sinh, móc nhớt từ trong đó ra, cho rằng đề đứa bé nuốt nhớt ấy, ngày sau nó sẽ ngu dần. Nhưng tay các bà mụ không hề thấy được khử trùng bao giờ cả. Chúng tôi là một kẻ đã có con, đã thấy các bà đỡ làm việc. Công việc cấp bách mà các bà đỡ làm là săn sóc mắt của trẻ sơ sinh. Các bà giải thích rằng khi đi ngang qua âm hộ của người mẹ, trẻ sơ sinh có thề bị nhiễm độc ở mắt. Các bà đỡ không bao giờ móc nhớt như các bà mụ vườn.
Cắt cuống rốn. Miền Nam có một loại tre tên là nửa, vỏ mỏng
nhưng rất bến. Một mảnh vỏ nửa to bằng ngón tay trở nên một con dao
bến. Có bà mụ vườn cắt cuống rốn bằng dao nửa, bảo rằng kim khí kỵ với việc sanh đẻ. Điều đó không có gì hại. Nhưng ít có bà khử trùng dao nửa. Các bà đỡ cho rằng không khử độc, đứa bé sơ sanh có thề mắc phong đòn gảnh. Kỹ thuật cắt cuống rốn khác hẳn nhau ở hai phải chuyên môn. Các bà
đỡ chừa lại một sợi cuống rốn ngắn có 6 phân tây, các bà mụ vườn chừa lại
hơn vài tắc tây. Hai phe giải thích khác nhau hết; ai đúng, ai sai, cũng chỉ
có các nhà chuyên môn là biết.
Các bà đỡ giải thích rằng đề dài có hại vì sự trì kẻo thể nào cũng xảy ra thì lỗ rún dễ bị thương. Các bà mụ vườn giải thích rằng phải đề dài, đúng theo thước tắc đã được quy định từ lâu đời mới là đúng cách.
Một cuộc tra tấn kinh hồn. – Chúng tôi thấy các bà đỡ đề cho cái nhau trốc tự nhiên, bền chí đợi. Khi nào nhau lâu tróc quá các bà mới can thiệp, nhưng không có gì làm cho ta kinh sợ cả. Các bà mụ vườn ở miễn Nam thì thi hành hai biện pháp đề thúc giục sự tróc nhau, cả hai đều khiến ta sang hoàng:
1/ Các bà nhét tóc vào miệng sản phụ đề làm cho sản phụ nôn oẹ, cho rằng hề nôn oẹ thì cơ thể bị động và nhau mau tróc. Nhau chậm tróc sẽ làm chết sản phụ.
2/ Các bà ngồi lên bụng của sản phụ và cựa quậy dữ dội, cũng cứ với mục đích nói trên, khi nào các bà không dùng tóc, hoặc dùng rồi mà không có kết quả.
Tôi thấy trong thôn ở, nhiều sản phụ sanh đẻ xong thì ba bốn hôm sau cải bụng chướng lên, sốt dữ dội rồi chết. Ta nói là sản hậu. Dĩ nhiên là sản hậu rồi đó. Nhưng cái gì sản hậu mới được chở. Sản hậu là nói tất «bệnh sản hậu» tức bệnh xảy ra sau khi đẻ. Nhưng là bịnh gì ?
Tôi ghi nhận triệu chứng, kẻ lại cho các bác sĩ nghe thì quí vị này giải thích: việc lấy nhau nhơn tạo và hối hả, thường đề sót lại trong dạ con vài mảnh rễ nhau. Chính những mảnh rễ ấy sình thúi lên, vì nó là chất hữu cơ đã chết, không còn được cơ thề tiếp tục nuôi dưỡng nữa. Chướng bụng là kết quả của sự sình thúi của các chất hữu cơ đó, còn sốt là cơ thề của sản phụ bị nhiễm độc vì sự sình thúi ấy. Các vị Tây y bảo rằng là cứu được. Nhưng ở thôn ồ, đàn bà chết rất nhiều về chứng này, họ không biết là nhà thương có thể cứu khỏi.
THẦY THUỐC NAM
Hết các bà mụ vườn đến các ông lang vườn. Nhưng chúng tôi dùng danh tử khác thiên hạ. Thiên hạ đề cả các vị đồng y hương thôn vào loại lang vườn. Chúng tôi gọi quí vị đó khác. Danh từ lang vườn của chúng tôi trỏ những người không theo hệ thống y học Trung hoa. Các vị đông y hương thôn có dở đến đâu, cũng vẫn theo hệ thống y khoa của Trung hoa, nó có hệ thống hẳn hòi, hay hay dở, đó là chuyện khác, nhưng có hệ thống về mặt y lý. Các ông lang vườn mà chúng tôi nói đến được gọi là thày thuốc Nam. Theo chỗ chúng tôi điều tra thì thuốc Nam chẳng có hệ thống nào hết. Cụ Hải thượng Lãn ông đã làm thuốc Bắc đó, chở không phải là thuốc Nam đâu Cụ phát triền, cải thiện y học Trung hoa, theo sự tìm tòi của cụ, căn cứ trên nền tảng có sẵn rồi là y học Trung hoa.
Khoa học của các ông thày thuốc Nam qui lại chỉ là dược phẩm, không có một ý niệm về y lý nào hết, khác hẳn với cải mà thiên hạ gọi là Đồng y mà chúng tôi gọi là y học Trung hoa. Dược phầm mà các ông thầy thuốc Nam dùng cũng cứ là dược phầm thật sự chớ không là bùa ngãi gì đâu. Các ông đã học gia truyền được tánh của một số dược liệu, phần lớn thuộc về thực vật.
Thương tích chảy máu. – Đề cầm máu đang chảy từ các thương tích, các ông lang vườn, mặc dù biết nhiều dược phẩm cầm máu, nhưng các ông thường dùng món này hơn hết: đó là một loại mạng nhện đặc biệt kia. Về phương diện giăng màn thì chúng tôi phân biệt hai hạng nhện. Một hạng giăng màn trên không trung, màn rất rộng lớn, nhưng chỉ màn rất thira. Hạng thứ nhì chỉ giăng màn nhỏ chừng bằng ngón chân cái, ở xó kẹt nào đó, bờ rào, vách ván. Mạng nhện này rất nhặc, màu trắng đục, trong giống hệt bông hút nước. Nhưng các ông không dùng nó như dùng bông hút nước đầu, vì màng nhện đó có khả năng cầm máu thật sự, còn bồng hút nước, chỉ hút máu mà không làm cho máu ngưng chảy. Tuy nhiên dùng loại thuốc này, các ông cũng đành bó tay trước các vết thương lớn, hay vết thương ở chỗ hiềm… Chúng tôi đã thấy hai trường hợp: Năm 1943, một người Tàu bị phi cơ đồng minh xạ kích trên một toa xe lửa. Viên đạn liên thỉnh máy bay to bằng cồ tay trẻ con. Ông lang vườn được mời đến chẳng làm gì được hết. Lần khác, một anh đồ tề tự cắt cồ bang dao chọc tiết heo. Ông lang cũng chẳng giúp ích gì được.
Ban. – Danh từ bạn là danh từ Trung hoa, nhưng Trung hoa dùng đề trỏ chuyện khác, chở trong y học Trung hoa không có bịnh nào gọi là bịnh ban cả. Hình như ở đất Bắt cũng không có. Đó là y lý riêng của lang vườn và Đông y miền Nam.
Ban của Trung hoa là lốm đốm trắng trên một nền đen hoặc lốm đốm
đen trên một nền trắng. Nhưng không có chỉ bịnh nào cả. Theo các ông lang vườn miền Nam và theo cả vài vị Đông y nữa thì ban là một bịnh ngang hàng với các bịnh khác, như đau gân, đau ruột, cảm mạo thương hàn. Theo các ông thì những cái mụt nhỏ màu trắng. như rôm, sải, trên da người (nhứt là da trẻ con) là nguyên nhơn của bịnh ban. Bệnh đó được đặt tên là Ban trồng, đề phân biệt với một bịnh có thật là ban đỏ (rougeole). Theo các ông thì bịnh ban, uống thốc Tây là chết chắc, uống thuốc Bắc cũng dễ chết, chỉ có uống thuốc Nam mới là chắc sống. Chúng tôi có hỏi các vị Tây y thì các ông bảo rằng: đó không phải là bịnh, lại càng không là nguyên nhơn. Bất kỳ bịnh gì gây sốt nhiều, trong nhiều ngày, cũng cho mọc ra những hạt lắm tấm nhỏ ấy cả, và ban là bịnh không bao giờ có. Nhưng các ông thày thuốc Nam thì hễ cứ có sốt đều cho là mắc bịnh ban. Ban cua. Ban cua huyền hoặc hơn ban trắng, vì trong ban trắng
ta còn thấy được. Những cái mụt lấm tấm, còn trong chứng ban cua, ta
chẳng thấy gì cả. Các ông lang vườn quả quyết rằng thuốc Tây hay thuốc Bắc
của Đông y đều giết chết con bệnh mắc chứng ban cua, giết chết mạnh hơn
đối với ban trắng. Theo các ông thì nguyên nhơn là một con cua nhỏ như
con cua đồng. Nó nằm ngay xương sống, ở dưới da, và đi từ ót xuống tới
eo người. Tới đó là con bịnh chết vô phương cứu chữa.
Chúng tôi đối chiếu triệu chứng của cái được gọi là bịnh ban cua thì thấy nó ăn khớp với cải mà Đông y gọi là bịnh thương hàn, nhưng Đông y không có nói tầm ruồng về con cua nào hết mà nói là ẩm thạnh dương suy cải đó ăn khớp với bịnh mà Tây y gọi là fièvre typhoïde.
Các ông lang vườn cho việc cắt giác quan trọng hơn là cho uống thuốc, tuy các ông cũng có cho uống thuốc. Nhiều con bịnh cũng khỏi, nhưng bịnh đó, nếu con bịnh có cơ thề mạnh thì tự nhiên khỏi được. Chúng tôi đã mắc bịnh ấy vào thời chưa có trụ sinh. Chúng tôi không tin Đông y hay lang vườn, cứ chịu đựng và rồi cũng khỏi, chỉ nhờ một vị bác sĩ mỗi ngày tiêm cho một phát thuốc long não đề khỏi lụy tim, chỉ có thể thôi. Bịnh đó thuở chưa có trụ sinh thường vật chết con bịnh đúng vào ngày thứ nhì mà họ hết sốt. Vì nhịn đói quá hai ngày nên hết sốt rồi, họ thèm ăn, nhưng ruột họ đã hồng, ăn vào là khó cứu khỏi chứng chảy máu ruột vì thủng ruột.
Kiết lỵ. Các ông lang vườn trị kiết lỵ bằng hai dược liệu này: lá, đi, vỏ măng cụt. Đó là hai chất có tánh cách bóp chặt lại, có thể cầm đi tả được. Nhưng gặp chứng kiết lỵ do vi trùng gây ra thì phải bó tay, vì tả lỵ có được ngăn, cũng cứ còn bịnh.
Sốt rét rừng. – Các ông trị sốt rét rừng bằng rễ ớt. Cũng có hiệu nghiệm, nếu bịnh nhẹ, như sốt cách nhựt thì có đỡ. Nhưng gặp sốt liên miên và nhứt là gặp chứng vi trùng xâm nhập óc (accès pernicieux) thì rễ ớt cũng cử đành bó tay.
Bón tảo Bón tảo thì không cần phải là lang vườn cũng trị được, mà đôi khi chẳng cần thuốc men, chỉ ăn đu đủ là khỏi. Nhưng thường thì họ cho uống thuốc mà có hàng trăm thứ ai cũng biết nên xin không kề ra.
Mất ngủ. Các ông trị mất ngủ bằng lá ngô đồng, bằng hột tâm sen, bằng lá mơ mà miền Nam gọi bằng một tên rất xấu: lá thủi địt. Tất cả đều hiệu nghiệm và không thấy gây hại bao giờ.
Áp huyết cao. Các ông trị bằng rễ nhàu, cũng có hiệu nghiệm, chỉ phiền là cân lượng thuốc men không có tiêu chuần gì hết, thấy mà bắt sợ.
Dời ăn. Đây là bịnh lở da mà Pháp gọi là zona Cốc ông trị bằng vỏ cây gáo nước, mài với tí nước lạnh rồi phết lên chỗ da bị lở. Quả có hiệu nghiệm.
Mắt hột, mắt toết. – Hai chứng bệnh mắt, mắt hột và mắt toết được trị bằng kẽm mài với tí nước. Đó là sulfate de zinc mà các ông biết từ hàng ngàn năm rồi. Đồng tiền kẽm đã bị Pháp phủ nhận giá trị từ năm 1859, nhưng nhiều gia đình cứ còn giữ. Họ dùng kẽm đó mà không dùng kẽm khác vì chính các đồng tiền lâu năm đã đã bị chắt sulfate bao phủ sẵn rồi. Chúng tôi thấy Tây y trị bằng thanh phàn (sulfate de cuivre) không phải bôi lên mắt mà dí vào những cái hột trong mí mắt. Hình như là sulfate de zinc quá yếu nên ít người khỏi bịnh.
Cọp về. -Người Việt di cư vào Nam năm 1923 chết nhiều nhất vì ba cái nạn sau đây: sốt sét ngã nước, cọp về và rần cần. Người Cao miên nói ta cướp đất của họ, chớ sự thật là ta khần hoang. 95 phần trăm đất đai miền Nam là rừng rậm hoang vu, nên ba cái nạn đó rất lớn. Vua chúa ta có biết tồ chức nhưng chắc không chu đáo lắm, không có Đông y đi theo đắm di cư nên họ tự động phát minh y khoa riêng của họ. Để trị rét rừng, họ đã có rễ ớt như đã nói.
Kẻ nào bị cọp xơi thì vợ con chỉ biết khóc. Nhưng kẻ nào bị cọp vồ mà thoát được thì các vết thương bị nhiễm độc và luôn luôn sẽ chết nếu không được điều trị. Các ông lang vườn điều trị bằng cách cho con bịnh ăn con tằm. Ân sâu là một việc ghê tởm. nhưng con bịnh vẫn cố ăn, không thì chết. Và quả đa số đã thoát được. Chúng tôi có đọc một bài bảo Mỹ, cho biết rằng có thể con tằm có sản xuất Pénicilline. Thế là dân ta đã biết trụ sanh từ nhiều ngàn năm rồi vì các ông lang ấy bảo rằng đó là trị liệu mà họ mang từ đất Bắc vào, chớ họ không phải là kẻ phát minh.
Thuốc rắn. – Thuốc cọp về thường hiệu nghiệm, còn thuốc rắn thì ít hiệu nghiệm, mặc dầu nhiều thầy thuốc rắn nói thánh nói tưởng nghe mê lắm. Thuốc rắn thường có thành phần các chất nóng như thuốc lá, trầu, vôi và mỗi ông thầy đều có một vị bí truyền đề thêm vào đó, không rõ là bịp hay có thật, nhưng số người chết nhiều hơn là số người được cứu sống. Chúng tôi tin rằng những người sống sót là nhờ nọc rắn yếu chở không nhờ thuốc.
Lề mắt hột. – Các ông lang vườn biết lề mắt hột, y hệt như Tây. Họ
dùng một mũi kim may áo khợi những hột ấy bỏ đi. Trị liệu này hiệu quả mười lần hơn trị liệu bằng tiền kẽm cồ mài với nước. Tây y không dùng kim mà dùng bàn chải, tức tầy được nhiều hột mỗi lần. Thế nghĩa là Nam y tuy không có hệ thống y học như Trung hoa vẫn có những cái biết chẳn chẳn
và hiệu nghiệm, thí dụ việc ăn tầm và lề mắt hột. Đau dạ dày – Trị liệu đau dạ dày cũng đúng và có hiệu nghiệm ở vài giai đoạn. Các ông trị bằng vỏ sò đốt chúng thành than và tán nhỏ trộn với đất sét. Tây y cũng có làm như thế. Về đất cao lanh thì y như ta, còn về vỏ sò thì họ dùng thử khác nhưng đồng dược tánh. Họ dùng than của
cây hêtre.
Ta thấy rằng các trí thức ta xưa, bận học Hoa y nên không phát triền
Việt y, chớ Việt y cũng đã có tìm tòi và tìm được rất nhiều thứ. Thuở bẻ
tôi đã bị đầu độc bằng thạch lục (vert de gris). Nguyên vào dịp đám cưới
chị tôi, các cô trong làng đua nhau làm bánh đề khoe tài. Bánh màu. Có một
loại bánh đề xem chơi, chớ cắm ăn. Đó là bánh xanh, màu xanh do thạch lục,
vì các cô không tìm được màu thảo mộc. Nhưng các cụ lại quên căn dặn tôi,
thành thử tôi ăn và ăn rất nhiều. Tôi đã được một ông lang vườn cứu sống,
nhưng tôi không biết đề mà hỏi. Lớn lên tôi quên mắt… Giờ nhớ ra ông
lang đã chết tâm mươi đời rồi.
Trên đây, chúng tôi không hề nói đến những vị Đông y trong làng,
(Đông y là có học y khoa Trung hoa) mà chỉ nói đến những ông lang hoàn toàn không có học y học Trung hoa.
Bịnh Hydropisie, ascite. Bịnh này ở nông thôn miền Nam gọi là Bị thư tức bị các tay phù thủy oán ghét ta dùng phép tả, đặt vào bụng ta một trải dừa khô, một bộ lư đồng chẳng hạn, nên bụng ta cứ chướng lên rồi thì ta chết.
Các ông lang vườn, mặc dầu không biết y lý, nhứt định không tin như vậy, vì dầu sao các ông cũng là ông lang, tức kẻ tin thuốc mà không tin bùa phép. Chúng tôi đã thấy các ông trị bịnh đó, đã làm gần y hệt Tây y ở nhà thương, mặc dầu cả đời các ông không thấy mặt mũi nhà thương ra sao cả. tức đó là tìm tòi riêng của các ông. Các ông dùng một cái gai gai chanh, gai quít chẳng hạn rồi đâm thủng da bụng con bịnh độ chừng một phân tây. Các ông cứ đề vậy vài tiếng đồng hồ là nước ascite chảy ra hết, bụng con bịnh xẹp xuống và lành hẳn. Chỉ tiếc là các ông chỉ biết có tới đó rồi thôi, không có bốc thuốc để trị nguyên nhơn như Tây y, nên độ 7,8 tháng sau, bụng con bịnh chưởng lên. Các ông lại làm như thế nữa, rồi thì vài năm là con bịnh đi theo ông bà, ông vải bởi bịnh không được trị. Nhưng quả con bịnh được sống thêm vài năm, và dễ chịu trong vài tháng mỗi năm có thề làm việc được.
KẾT LUẬN
Không hề có ý cỗ võ cho ai phát triền cải Việt y đó, nhưng chúng tôi xin nhấn mạnh là dân tộc ta, những người không có học Hoa y, vẫn có tìm tòi và đã tìm được vài cái gì đảng đề. Nếu độc lập và văn minh lâu đời, vào thời xưa, ta đã có y khoa riêng như Trung hoa Ấn Độ chở không là học trò của Hoa y. Nhưng tình thể xưa đã không xảy ra như vậy. Nay thì y khoa đã tiến nhiều, không thể trở lại từ chỗ thấp của ta đề mà tiến lên làm gì. Nhưng ta phải biết là tổ tiên ta đã tự lực tìm ra được chất penicilline từ nhiều ngàn năm rồi.