LoạiTÊNCÔNG DỤNG
Gạo, đậuGẠO LỨT
TRẮNG
Bổ xương, bổ não, bồ tỳ, trừ thấp. Nhiều sinh tố B, trị liệu các loại bênh do thiếu sinh tố B như phù thủng, tê bại. Ăn thường không có hại.
Gạo, đậuGẠO LỨT
ĐỎ
Bổ máu, giảm cân nhanh, rút nước trong tế bào trị sưng, phù thủng, giàu canxi, nhiều chất xơ, giúp trí nhớ, kháng thể tốt, giảm chứng tim mạch, mỡ máu, tiểu đường. Ăn thường rút hết nước trong hạt máu, da nhăn nheo, co rút.
Gạo, đậuĐẠM
ĐẬU XỊ
Giải nhiệt, trừ phiền, hạ khí, chữa đầy hơi, điều chỉnh tỳ tạng tốt hơn so với đậu đen. Đậu đen tuy có công hiệu bổ thận, cường tâm, làm sáng mắt, hạ khí, khu phong, hoạt huyết nhưng tính chất của nó gần với các loại khó tiêu, nị trệ, ăn nhiều hoặc dùng lâu ngày bao tử và ruột sẽ nặng nề khó tiêu. Vì thuộc loại lên men nên có thể điều chỉnh hệ thống men trong ruột, phân giải chất đạm, cũng như xúc tiến sự tiếp thu chất dinh dưỡng.
Gạo, đậuĐẬU ĐỎLợi thủy, khử thấp. Bệnh gây sưng thủng, tiểu tiện không thông, dùng đậu đỏ làm thức ăn trị liệu. Hạ thủy thủng, bài trừ chứng sưng có mủ, trừ mủ và máu ở các ghẻ độc, trị chứng nôn ọe, lợi tiểu tiện. Ruột và bao tử thấp trệ, tiểu tiện vàng sậm ít nước, đậu đỏ hạt nhỏ nấu cháo nấu chè trị liệu. Ăn lâu dài làm cho khô ốm, gân xương không hòa hượt. Người âm hư, hay khát nước, khô cổ, không nên ăn.
Gạo, đậuĐẬU VÁNLàm cho đầu óc được yên tĩnh, điều lý hệ thông tiêu hóa, Thông lợi tam tiêu, đem khí thanh nhẹ lên trên. Gián khí đơ – trược xuống dưới. Trẻ con ăn đủ thứ làm tổn thương bao tử và ruột, bị tiêu chảy, đại tiện lỏng nát, dùng biển đậu nấu cháo để cả vỏ trị liệu. Vỏ đậu nhiều sinh tố B. Biển đậu xào trước, rồi nấu thức ăn sẽ dễ tiêu hóa hơn. Nội tạng có táo nhiệt, biển đậu nấu cháo nấu chè có thể thanh trừ. Rang vàng nấu nước thế trà uống, rất tốt. Người mạnh không nên ăn nhiều quá, ăn nhiều hay ngăn khí. Khi cảm, nóng lạnh, không nên ăn.
Gạo, đậuCHÁOMát, bổ sung nước. Ăn nhiều dầu mỡ bị tích trệ, chóng mặt nặng đầu, tròng trắng màu đỏ hồng, miệng khô và đắng, bụng ngực nặng nề đều do ruột và bao tử bị tích trệ. Ăn cháo trắng hiệu quả thanh lí nhiệt trệ ở bao tử và ruột, người trẻ có thể ăn them cải xà lách.
Gạo, đậuHẠT
BO BO
Điều chỉnh cơ năng bài tiết nước trong cơ thể. Vị thuốc lợi tiểu an toàn và hữu hiệu. Ý mễ vừa thanh nhiệt vừa khử thấp mà người có gốc hàn hay nhiệt dùng đều không có phản ứng xấu. Đuổi hết khí phong thấp, ăn nhập vào gân cốt, thông xuống ruột non ruột già, dẫn lại bọng đái mà đái ra, là vị thuốc chuyên trị về thấp nhiệt. Thông lậu nhiệt, cầm ỉa chảy.
Song, tánh rất thấm ráo thông hạ, hạp cho người thấp trệ nặng nề, khi mưa gió chân hay đau sưng, nặng nhức mà không hạp cho người âm hư, táo bón, đen, ốm hay khát nước khô cổ…đàn bà có thai không nên ăn, ăn sợ tổn thai.
Gạo, đậuTRÀ
GẠO RANG
Trà gạo rang: chữa chứng phong khát vào mùa nóng, cho dù uống nhiều nước vẫn cảm thấy khát. Trà gạo rang tốt nhất nên dùng gạo đỏ.
Gạo, đậuNƯỚC CƠMNước cơm: trừ tình trạng nhiệt trệ trong bao tử và ruột, điều lý táo khí trong gan, làm nhuận mát hệ thống tiêu hóa. Nước cơm là tinh hoa của gạo, có dinh dưỡng tốt, thanh nhiệt trừ táo, nhuận mát nội tạng, lại không có cái hàn trệ. Nước cơm công dụng tư âm bổ tinh, tư thủy chế hỏa, bổ sung nước và đè hỏa nhiệt xuống. Còn có thể điều lý gan nóng, hỏa thịnh, đầu luôn bị nhức, khí hư, đại tiện không thông, miệng khô đắng, ngực nặng khó chịu, ăn uống xong thì bụng ngực buồn nôn, ói khan.
Gạo, đậuNẾPĂn ít, bổ khí, làm cho có sức mạnh. Ăn nhiều trệ khí, làm hoải gân cốt, lười biếng. Động trái tim, sanh hồi hộp và có ghẻ chóc. Ăn nếp mà uống rượu thì say nhiều, lâu tỉnh. Người đau thấp nhiệt, đàm hỏa, phải cữ. Nếp là thứ dính dẻo, khó tiêu, người mạnh cũng không nên ăn nhiều. Con nít và người bịnh, nhất là bịnh tê bại, phong đàm càng nên kiên cữ. Đàn bà có thai ăn chung với các thứ thịt, không lợi cho cả mẹ con.
Gạo, đậuBẮPBắp trắng (bắp nếp) vị ngọt, tánh hơi hàn, bổ bao tử, lá mía, thêm khí lực. Trị bịnh hượt tinh, ỉa kiết, bao tử rân tê, khát nước uống không đã, trị bịnh phong nóng giã trong ruột. Bắp trắng: người nào lá mía hàn lạnh, không nên ăn nhiều. Ăn nhiều lâu tiêu, hay hoải gân cốt, tay chân biếng nhác.
Bắp vàng (bắp Mỹ) công dụng đồng như bắp trắng mà không hàn trệ. Bắp vàng ăn nhiều không sao. Rất hạp cho người âm hư ốm bón, khát nước, di tinh, thường ra máu cam.
Lớp ngoài và lớp vỏ lụa bắp chứa thứ vật chất có khả năng tang cường sinh dục cho động vật. Ăn thường xuyên tang them hocmon, bổ sung và xúc tiến mọi hoạt động của cơ thể. Nấu nhai không kỹ hoặc ăn quá nhiều sẽ bị khó tiêu. Có thể nấu cháo, nấu canh hoặc súp. Thường ăn bắp tang cường sức cho tim, đề phòng bệnh tim.
Gạo, đậuĐẬU
NÀNH
Đậu nành vị ngọt, để sống tánh mát, rang vàng tánh nóng, nấu chín tánh hơi mát, làm tương tánh bình, chế đậu hũ tánh hàn. Hòa tạng phủ hạ khí, thông ruột, trị trướng nước. Tuy là món ăn bổ ích hàng ngày nhưng ăn nhiều cũng hay ngăn khí, phát nóng, sanh đàm, động ho, sanh ghẻ. Thân thể nặng nề, mặt mày vàng úa, không tươi sáng. Các thứ đậu nành đều cữ ăn chung với thịt heo rừng. Người bao tử lạnh, nhiều phong, bao tử lở loét, viêm ruột, dễ tiêu chảy, sình bụng, tiểu đêm đều không nên uống sữa đầu nành hay ăn đậu hũ.
Gạo, đậuĐẬU ĐENĐậu đen vị ngọt, để sống tánh bình, nấu chín tánh hàn, rang chín tánh ấm, không độc. Làm ra các thức ăn đi ngay vào trái cật. Hòa bổ tạng phủ, hạ khí. Thông kinh lạc, đen râu tóc, định tâm thần, tỏ sáng con mắt, hượt huyết, tiêu thủng, trừ phong. Tan khí lạnh kết chứa trong năm tạng. Và phong độc vào năm tạng. Ăn thường thì tươi sáng da mặt, làm cho thân thể dẻ – chắc lâu già. Là thức ăn bổ dưỡng. Công dụng vào thuốc rất nhiều.
Gạo, đậuĐẬU XANHĐậu xanh vị ngọt, tánh mát, không độc. Làm ra các thức ăn, đi vào lá gan. Thông khắp 12 kinh lạc. Điều hòa năm tạng, bổ ngươn khí, an tinh, sáng con mắt, trừ nhức đầu, khát nước, tiêu thủng, thông đường tiểu giải các thứ độc. Ăn đậu xanh không nên bỏ vỏ. Công dụng và tánh mát ở vào vỏ nhiều. Nếu bỏ, trái lại không thông khí mà hay ngăn khí. Người đau gan, sườn bên trái đau rang, mắt mờ, ra gió hay chảy nước mắt sống: nấu lộn với cơm ăn rất tốt. Người bao tử, lá mía lạnh yếu, hay ỉa chảy, không nên ăn. Không nên ăn với cá gái lâu, ăn lâu sanh bịnh gan vàng, rồi thành bịnh tiêu khác. Uống thuốc nào có Phỉ – tử – xác, không nên ăn. Vì hai tánh rất phản nhau
Gạo, đậuMÈMè có 2 thứ đen và trắng, tánh chất công dụng cũng đồng nhau. Nhưng mè đen thì tốt hơn, vị ngọt béo. Sống, tánh hàn. Nấu chín, tánh ấm. Rang chín, tánh nóng, không độc. Dùng trong các thức ăn, hòa huyết mạch, nhuận ruột, bao tử. Tan phong khí, đàn bà gần ngày nấu cháo ăn, tử cung hượt, nhuận, dễ sanh đẻ. Người bón uất, ăn thường hượt – trường.
Nhuận trường, trị táo bón. Cuối thu đầu đông cơ thể cảm thấy khô khan, không muốn ăn, tiện bí, lưỡi khô, môi giộp, miệng hôi. Hỏa ma nhân công dụng nhuận trường thông tiện, khu phong nhuận táo, tư âm, sinh tân. Thanh lý táo nhiệt ở phổi và bao tử, ngưng táo hạn. Chất dầu làm nhuận trường.
Người già tinh huyết kém, ruột già khô, táo, hay bón, không nên uống thuốc xổ: nên dùng mè, nấu cháo ăn thường thì hượt được. Người hay ỉa chảy, không nên ăn.
Dầu mè cũng là thức ăn bổ dưỡng, nhất là bổ cật, giúp ích cho lá gan. Dưỡng huyết, nhuận táo, thêm khí lực, sanh da thịt, tăng thêm chất mỡ trong xương, óc, làm cho mạnh gân xương, sáng tai mắt. Dùng vào thuốc thật nhiều. Dùng trong món ăn cũng nhiều.
Gia vịGỪNGGừng sống vị cay, tính ấm, không độc. Ăn sống, ăn chín hay kích động, phấn khởi thần kinh, làm cho bao tử,lá mía hòa ấm, tăng thêm sức vận chuyển, thông thần kinh, trừ khí tà độc bởi ăn uống nội thương, các khí tà độc bởi lục dâm, ngoại cảm, thông hơi không trong sạch trong phổi, chấn thủy, chẻn dừng, giải uất kiết trên thượng tiêu, là thức ăn chuyên trừ nhức đầu, nghẹt mũi, ho đàm, ói, mửa, đau bụng, ỉa chảy, hàn thấp làm tê bại, phù thủng, bán mùi tanh cá, thịt, cua, trạnh, giết các khí độc trong đồ ăn uống.
Lão sanh khương, gừng già: vị cay, làm đổ mồ hôi để giải cảm, điều hòa tỳ vị, hành thủy khí, trị phù thủng và đầy bụng, tay chân nặng nề, ngực và bụng cảm thấy khó chịu, nó có tác dụng xúc tiến đối với công năng bài tiết nước. Tăng gia nội tiết, làm cho người ta thèm ăn hơn. Lão sanh khương làm hung phấn tinh thần, tác dụng kích thích niêm mạc trong cơ thể, tác động cơ năng bài tiết nước bị đình trệ theo mồ hôi, nước tiểu bài tiết ra ngoài, làm tay chân hết phù cứng, bụng ngực hết khó chịu. Người có gốc hàn dùng sanh khương là rất thích hợp. Sinh tinh trùng cho đàn ông, điều trị liệt dương.
Gia vịỚTỚt: nhiều sinh tố C, dùng ớt theo bữa cơm giúp thức ăn ngon miệng, phòng thấp khí.
Ớt: khu trừ phong hàn, hưng phấn thần kinh, kích thích tuyến mồ hôi và cơ năng bài tiết nước. Dùng làm gia vị trong bữa cơm giúp tinh thần phấn chấn, kích thích them ăn. Lá non của ớt nấu canh có công dụng làm ấm bao tử.
Ớt có nhiều giống nhưng chỉ có ớt hiểm là có giá trị hơn, vị cay, tính nóng, không độc, ngâm giấm, làm dưa, dùng trong thức ăn, tan khí, tiêu đồ ăn, ăn ít thông phổi, ấm bao tử, làm cho bao tử mạnh, ăn được ngon cơm và giết mùi tanh độc cá thịt và trong các đồ ăn, ăn nhiều táo phổi, động huyết, phát đau mắt, nhức đầu, ho khan, nóng nảy, rồi sanh bệnh trĩ, đang có bệnh con mắt không nên ăn.
Gia vịTỎITỏi: tinh dầu tỏi có hợp chất Sulphur có công dụng sát khuẩn, diệt khuẩn đường ruột, phòng trị cảm cúm, thương hàn, thổ tả, kiết lị, chế ngự ung thư. Tỏi có tính cay ấm, người có nhiệt khí, bệnh viêm tính thì không nên dùng.
Gia vịCHANHChanh: tang cường tiêu hóa, thanh lý chất béo còn sót lại trong bao tử và ruột, giúp đại tiện thông nhuận. Vỏ chanh có hàm lượng C cao, làm nước trà chanh uống nên để cả vỏ. Chanh có thể hạ khí trừ đàm. Nhưng nếu do bao tử lạnh, khí bị ngưng trệ, uất kết không hạ xuống dược, dẫn đến ngực bụng bị đầy không thể dùng chanh để hạ khí. Nếu phổi yếu mà có đàm, đàm do hư hàn cũng không thể dùng chanh. Vị chua, tính thu liễm, khi cảm ho phát sốt cũng không nên uống chanh.
Gia vịTƯƠNG HỘTTương hột: là loại thực phẩm đã được lên men, chẳng những hệ thống tiêu hóa tiếp thu được dễ dàng, mà còn giúp hệ thống men trong cơ thể được hoạt động bình thường. Vật liệu làm tương hột có hạt lúa mì, bột mì, đậu, gạo, muối. Nấu đậu nành cho chin, phối hợp bột gạo vừa phải, trộn đều sau khi lên men, cho vào lượng muối thích hợp, đổ nước chin để nguội và trộn đều, đem ra ngoài nắng phơi một thời gian sẽ thành tương hột.
Gia vịHÀNHHành: làm đổ mồ hôi, tính trung hòa, thông kinh mạch, hoạt huyết, trị thương hàn, nóng lạnh, trúng gió, mặt bị phù thủng. Chất lân công dụng sát khuẩn rất mạnh. Dùng 6-7 củ hành, them lát gừng già, bỏ vào chảo rang cho thơm, nấu nước uống sẽ có công hiệu đuổi hàn khí ở bao tử, ngăn ói mửa, giúp khai vị, ăn biết ngon. 4-5 củ hành, 3 chỉ tàu xì lạt, 3 lát gừng tươi, nấu canh, trị liệu chứng cảm mạo mới phát. Hành còn làm dịch tiêu hóa tiết ra đều đặn, giúp ngon miệng, tiêu hóa tốt hơn.
Gia vịGIẤMVị thật chua, có đới đắng, tánh ấm, không độc. hàng ngày gia vị vào các thức ăn, bán mùi tanh độc cá, thịt, cua, hành, rau, cải và làm cho tiêu các thứ độc, tà độc, tan máu ứ, tiêu sững sốt, gom miệng ghẻ, làm cho mau lành, trừ khí nóng và hạ khí… Lúc vô bao tử kích thích thần kinh bao tử, làm cho nước chua phân bí mạnh thêm, nên ăn ngon mà mau tiêu và cũng hay ngắn chế chất sinh chua trong bao tử bị hẩm ủ ăn chẳng tiêu hóa làm ợ ngược. Vô đến ruột, làm cho tánh thâu liễm của ruột tăng thêm. ĐỒng thời lại hay ngưng cố chất tròng trắng trứng từ ruột hấp thâu vào phần huyết, và cũng làm cho vi ti huyết quản trong người giảm đi. Nên ta có tiếng nói: ăn chua mất máu là thế. Vẫn biết là món ăn phải cần có, nhưng đàn ông ăn nhiều quá tổn răng, hại gân, mất vẻ tươi sáng gương mặt. Còn đàn bà đẻ nên ăn. Vì hay tan máu ứ và cũng nên chế thường trong thang lửa đặng khói giấm bay vào mũi. Ngừa bịnh xây xẩm.
Gia vịNƯỚC
TƯƠNG
Vị mặn chua, tánh bình, không độc. Dùng trong các thức ăn giải được tất cả các độc loại rau, nắm, cá, thịt,,, điều hòa năm mùi ăn, trừ hơi nóng trong tạng phủ, ăn nhiều quá động khí, sanh đàm, tương làm bằng bột. Nhất là bột lúa mạch ăn hay lỡ miệng.
Rau củNẤM
BÀO NGƯ
Nấm bào ngư ăn như thịt gà. Rửa sạch, rải 1 lớp muối, chiên lên, vắt nước đi rồi kho. Nấm kho tiêu thêm đường mặn mặn ngọt ngọt.
Rau củYẾN SÀOSúp yến: yến xào, táo đỏ, kỷ tử, hạt sen, nấm tuyết, nước gừng, đường phèn. Tổ yến có chất axi amin không thể thay thế của con người. có chất nhờn sinh lý chống mãn dục sớm. Trị ung thư tế bào gốc. Nuôi lành tế bào sau hóa Trị xạ trị. Nên uống lúc bụng đói.
Là thức ăn bổ dưỡng nhưng lại thanh, không gây ra chứng nóng. Làm thuốc bổ dưỡng tang sức, ăn vào không bao giờ có phản ứng xấu. Tăng khí, nhuận phổi, bổ âm, hóa đàm, them tinh, bổ tủy. Người lớn tỳ yếu, đổ mồ hôi nhiều, tứ chi và thân thể dễ cảm thấy mệt mỏi, Nên dùng Tổ yến Làm sạch, them vào một ít đường phèn, chưng cách thủy cho chin, ăn như món đồ ngọt.
Rau củLẨU HOALẩu hoa: hoa bí, hoa thiên lý, hoa so đũa đỏ (tía), hoa so đũa trắng, bông cải xanh, bắp cải tím, bông điên điển, lá vang, nấm: ngon miệng, hạ nhiệt, an toàn, giảm nhức mỏi. Bông so đũa trắng ăn nhiều không tốt, phá bạch cầu. Bông so đũa tím phá hồng cầu. Ăn ít để phá huyết khối, giảm nguy cô nhồi máu cơ tim. Tất cả các loại hoa đều có tính chất an thần, mát phổi.
Rau củĐÔNG TRÙNG
HẠ THẢO
Đông trùng hạ thảo: làm mạnh mạng môn, ích tinh tủy, bổ phế thận, ích khí, chỉ huyết trị ho lao hư tổn. Đông trùng hạ thảo mùa hè phát triển như loài cỏ, mùa đông tiềm phục thành loài trùng, nên thu được cả hai khí âm dương.
Rau củNẤM
KIM CHÂM
Nấm kim châm, vong ưu thảo, cỏ quên sầu, ăn nấm kim châm giúp chúng ta vui vẻ quên sầu. Tuy nhiên kim châm thuộc loại có thấp nhiệt, lại có tác dụng phát độc nên không có lợi cho những trường hợp lở loét chấn thương. Người bao tử ruột có thấp nhiệt, không nên dùng. Im châm có công hiệu thanh phế nhiệt, nhu hòa can khí, người can hỏa táo thịnh, tính tình nóng nảy, nấm kim châm nấu thịt nấu canh có công dụng bình can thanh táo.
Rau củPHỔ TAIPhổ tai, hải đái: khi cần bổ sung chất i-ot nên chọn phổ tai làm món ăn. Công hiệu lợi tiểu, trị phù thủng, bệnh lậu, sưng bàn chân cho thủy thấp, bứu cổ. Hóa nhiệt đàm, sát trùng, thanh lý tích tụ trong ruột và bao tử. Phổ tai nấu nước uống có công hiệu hạ huyết áp. Phổ tai tính hàn, người có gốc hàn, thân nhiệt thấp, thân suy, đi tiều nhiều không nên dùng. Phổ tai ngâm cho mềm, rửa sạch, xắt nhỏ, them ít gừng. Nấu phổ tai cho chin nhừ, cho thịt heo vào. Dùng nước tương nêm cho vừa ăn. Cách ăn này bổ sung chất iot cho cơ thể, rất có lợi.
Rau củSƠN TRASơn tra: khai vị, tiêu trệ. Ăn uống sình bụng, khó tiêu, làm biếng ăn. Ăn nhiều thịt trong bao tử bị đầy hơi, lấy sơn tra nấu nước uống công hiệu tiêu trệ. Vị chua làm mạnh bao tử và trợ tiêu hóa, bảo vệ tim. Huyết áp cao uống sơn tra trị liệu. Lúc cảm sốt không nên dùng.
Rau củNẤM MÈOMộc nhĩ, nấm mèo: khi nấu ăn có nấm mèo, làm tang them dinh dưỡng cho món ăn.chưng với rượu, thanh ứ, phòng ứ cho sản phụ, người bị đánh té cũng có thể dùng để phòng máu bầm gây hại về sau. Nấm mèo lưng trắng, ngâm mềm rửa sạch, vài ba lượng rượu trắng, đem chưng chin, lọc lấy rượu uống lúc nóng. Cặn rượu xoa lên bụng hoặc chỗ bị té.
Rau củHOÀI SƠNHoài sơn: người bình nhật thiếu máu, ít nước miếng, có thể dùng hoài sơn làm trị liệu cơ thể hư nhược. kiện tỳ vị, chữa bạch đái, ăn như điểm tâm sáng. Màu trắng của hoài sơn đi vào phổi, vị ngọt đi về tỳ, chất nhựa bổ thận, tư âm dưỡng huyết, củng cố khí hóa trong thân thể, lại có thể định suyễn chỉ khát, tang sức cho tim, nuôi dưỡng tinh thần. tính hòa bình,thường dùng cũng không có gì đáng ngại. Dùng thứ sống nấu nước uống hiệu quả sẽ càng tốt hơn. Đem nó sao chin, làm tổn hao chất nhựa, uống vào sẽ vô hiệu. Nếu người thân thể suy nhược, bệnh lâu ngày mà âm hư, lấy hoài sơn xay thành bột, them đường cát nấu cháo lỏng hoặc làm bánh ăn lâu dài.
Rau củMẬT ONGMật ong: tác dụng xúc tiến nội tiết và linh hoạt hóa kích thích tố trong cơ thể. Tuy nhiên, uống mật ong trong tình trạng bụng đói lâu dài, sẽ có trở ngại cho cơ năng của tỳ và thận nhất là với người khí yếu, đại tiện không thông càng không nên dựa vào việc uống mật ong lâu dài để làm thuốc hoạt trường.
Rau củNẤM
ĐÔNG CÔ
Nấm đông cô: các loại nấm thường có nhiều chất tiền sinh tố D, khi gặp ánh sáng mặt trời (tia cực tím) soi lên da, sẽ chuyển hóa thành sinh tố D, dự phòng bệnh còi xương. Nấu cơm với nấm đông cô, ngâm nấm cho mềm, thái chỉ, nêm muối dầu, nước gừng tươi, cơm sôi trải nấm lên mặt cơm, cơm chin, trộn cơm ăn với nấm.
Rau củTHIÊN LÝBông thiên lý xào: giải nhiệt, an thần, gây ngủ, trị giun kim.
Rau củBÔNG
BÍ ĐỎ
Bông bí (đỏ) xào: giàu chất xơ và diệp lục tố, mát gan, thơm miệng, an thần, lợi cho bệnh tim mạch, tiểu đường, ăn kiêng.
Rau củĐỌT BÍĐọt bí xào: đọt bí xanh thẳm nhiều lục diệp tố, thơm miệng, nhiều chất xơ không bị ung thư ruột già, béo phì.
Rau củĐỌT CHẠY (CHOẠI)Đọt chạy xào: nhiều chất nhờn, có tính kết dính bồi các khớp, đắng và thuộc tế bào xớ dai chống ung thư, tạo động lực.
Rau củĐẬU BẮPĐậu bắp xào: nhiều chất nhờn, có tính kết dính bồi các khớp.
Rau củRAU MUỐNGRau muống xào: giàu dinh dưỡng, chất xơ, chất đạm. Làm hạ huyết áp, người huyết áp thấp, nhịp tim yếu, tay chân thường bị tê, vọp bẻ, đều không nên ăn, có thể gây chứng co rút. Người cơ thể suy nhược, mắc bệnh huyết áp, thuộc hư tính đều không nên dùng.
Rau củCẢI THẢOCải thảo xào tỏi: giàu chất xơ, mát, không lạnh. Tác dụng hạ khí, thanh nhiệt nhuận thấp. Làm mềm cổ họng, bớt ho, bớt rát trong trường hợp bị vị khí xung thiên.
Rau củĐẬU COVEĐậu ve hơi mát, luộc nên bỏ tiêu gừng. Xào hoặc chấm nước kho ăn cân bằng.
Rau củBÔNG CHUỐIBông chuối kho tộ rắc tiêu: món ăn cân bằng, có lợi cho bệnh tiểu đường, dư colesteron, tim mạch, gout. Bông chuối chiên giòn, bông chuối luộc, đập dập, chiên với bột chiên giòn.
Rau củCỦ
HỦ DỪA
Củ hủ dừa kho tộ rắc tiêu: giàu chất xơ, nhiều dinh dưỡng.
Rau củMÍT NONMít non kho tộ, kho xá xị rắc tiêu: có lợi cho ng bệnh tiểu đường, giàu chất chát, chất xơ
Rau củKHOAI TÂYKhoai tây kho gừng. Khoai tây tính bình, bổ. Củ mọc mầm có độc cẩn thận. Chất bột nặng bụng, gây béo phì nếu ăn nhiều.
Rau củKHỔ QUAKhổ qua kho thịt ba rọi hoặc kho nấm + tiêu: nạo mỡ trị tiểu đường, chất đắng tạo sức vận hành cho cơ thể.
Rau củMĂNGMăng có xớ dai, mình nước âm, có lông ngứa. Nạo mỡ trong máu, trị colesteron, chống oxi hóa. Nhưng âm nên ăn vô nhức mình. Ăn măng chấm mắm ớt cay. Nên ăn măng khô, măng luộc rồi.
Rau củMƯỚPCanh mướp khía mồng tơi: khác với mướp da trơn gây đau mình nhức mỏi, canh này mát mà không độc, Mướp có mướp tròn và khía. Mướp khía ngon bổ, không động phong như mướp tròn. Tính chất công dụng cũng gần nhau. Vị ngọt, tính bình, không độc
Công dụng: Dùng vào các thức ăn bổ dương, ích khí, thông kinh lạc, ấm bao tử, trừ nóng, mát máu, giải độc, tiêu đàm, tiêu thũng, phát vàng, khí huyết nhưng trệ, làm đau rang dái, xệ dái, đái ỉa ra máu, trỉ lậu ra nước vàng, đàn bà thông sữa, an thai, băng huyết, con nít bởi thai độc sinh ghẻ lở, trái rạ, trái trời, nhọt ghẻ, sâu răng. Là thức ăn có ích.
Hạp – cữ: Không nên ăn nhiều. Ăn nhiều có thể liệt dương làm cho dương sự bất cử. Trái non tính hàn nhược ăn nhiều dễ sinh ỉa lỏng. Trái cong ăn không tốt.
Rau củBỒ NGÓTCanh rau bồ ngót: giàu chất xơ, lục diệp tố, ăn lành, mát không độc. Tốt cho người bệnh mới khỏi. Rau bồ ngót: trừ nóng ở ruột và bao tử (thấp hỏa), trừ nhiệt khí trong người. Thanh nhiệt, mát máu, sinh nước miếng, lợi tiểu. Vị hơi ngọt, tính thanh lương (mát). Chỉ cần nấu đủ lửa nó sẽ mất tính hàn lương. Người tỳ yếu, thận suy, dễ tiêu chảy đều không nên dùng canh bồ ngót.
Bù ngót vị ngọt đắng, tính mát, không độc, nấu canh ăn, hòa trung, ích khí, mát máu, giúp thêm trái cật có chất lượng bổ cho người nhiều, người âm hư ốm bón hay khát nước ăn rất tốt.
Rau củXÀ LÁCH
XOONG
Canh xà lác xoong: bổ huyết trị tim mạch tiểu đường. Làm mòn sỏi thận. Điều tiết đường trong máu, trị thiếu máu. Có vị cay nồng, tế bào xớ dai nạo colesteron, ăn rau luộc bỏ xíu đường. Nấu canh nên bỏ chút tiêu. Cây lớn tốt hơn cây nhỏ. Cọng lớn thuộc tế bào xớ dai. Cải xà lách xoong: mát phổi, mát bao tử, làm sạch máu. Thanh huyết, thanh nhiệt. Nếu ăn đồ chiên xào, nhiệt khí quá nặng, lại them khí hậu khô, dễ sinh ra hoa, đau cổ, miệng hôi, nặng ngực. uống nước canh có khả năng tiêu trừ.
Rau củCANH CHUACanh chua mít non + rau nhúc: mít non, rau nhúc thuộc tế bào xớ dai có chất chống oxi hóa tế bào, canh chua nêm ngọt cân bằng không gây dư acid hại bao tử.
Rau củRAU MÁCanh rau má vườn: là loại rau má lá nhỏ, không giống như rau má lá to trồng bằng phân bón ure, ăn mát, cân bằng bệnh tật
Rau củCANH CHUACanh chua cá basa bổ sung omega-3, chất béo tốt, mỡ cá.
Rau củTÍA TÔLá tía tô: giải cơ, làm ra mồ hôi, đánh tan phong hàn, thông khí, giải được cái độc do cá và cua gây ra. Tinh dầu trong lá tía tô có tác dụng chống vi khuẩn gây thối rữa rất mạnh, tác dụng diệt khuẩn, phòng độc. Giáng khí, hóa đàm, làm đổ mồ hôi và trừ chứng lạnh.
Rau tía tô vị thơm cay, tính ấm, không độc, ăn sống thông tim, phổi, đường tiểu, ấm bao tử, lá mía, hòa huyết, hạ khí, tan đàm, an thai, giết mùi tanh độc cá thịt, cua trạnh, là thức ăn rau gia vị.
Hạp – cữ: Người phổi lạnh ho suyễn có đàm, nghẹt mũi nên ăn, người không bệnh ăn nhiều quá tổn chân khí. Cữ ăn chung với cá gáy, ăn sanh ghẻ độc.
Rau củCẢI BẸ
TRẮNG
Cải bẹ trắng: Công hiệu thanh nhiệt khí ở phổi và bao tử. Cho dù người gốc hàn, muốn ăn cải bẹ chỉ cần nấu cho them vài lát gừng già để phòng hàn khí, khi ăn không có hại gì cả. Tuy nhiên người gốc hàn không nên ăn cháo cải bẻ trắng. Vì cháo đã là mát, thanh lương ròi.
Rau củHẸCau trấp, nước lá hẹ: dùng 1 cân lá hẹ tươi, đâm nát, vải thưa túm lại rồi vắt lấy 80gr nước đổ vào ly, chưng cách thủy. Công dụng tiêu ứ rất tốt, dùng nhiều vẫn không có hại. Hẹ là loại rau gần tính ấm, nên người hư nhược ăn nó cũng không sợ bị hàn. Chống sưng, tan máu bầm giúp tế bào mới sinh trưởng.
Hẹ sống vị cay gắt, nấu chín vị ngọt chua đi vào gan, bổ tim, bao tử, trừ hư lao, hòa tạng phủ, giúp sự tiêu hóa. Làm cho đầy đặng khí lực trong phổi, ấm bao tử, lá mía, chắt cật, cố tinh, tan đàm chứa, máu ứ. Hạ khí suyển ngược lên trên. Trị các chứng thuộc về huyết như thổ huyết, khát huyết, ho huyết, nhổ huyết, đái huyết, máu cam, đàn bà huyết trắng, huyết điều hoặc đến tháng kinh lạc đi nghịch lên trên làm ra các thứ huyết.
Rau củRAU CẦNRau cần: bình can khí, làm ổn định sự tuần hoàn của máu, tác dụng làm tan máu bầm. rau cần phải nấu chin rồi mới ăn được, nhất là cần tây không nên ăn sống. Tác dụng ổn định và hạ huyết áp.
Rau củCỦ CẢI
ĐỎ
Củ cải đỏ: nấu canh uống giúp tiểu tiện thông mà không hại thận khí, lại có thể thanh huyết. Công dụng làm đổ mồ hôi nhẹ và kéo dài khiến độc tố trong cơ thể theo mồ hôi mà đi ra. Ăn vào bao tử có thể phân giải và tiêu trừ chất độc làm trở ngại tiêu hóa và hô hấp.
Rau củCỦ SẮN
CÁT CĂN
Cát căn, củ sắn: người nghiện rượu lấy 1-2 cân củ sắn, để cả vỏ sắt nhỏ nấu 4-5 tiếng có thể tiêu hỏa khí phòng các bệnh có rượu gây ra. Phát hạn, giải nhiệt, tán uất hỏa, trị bệnh sởi. Vị ngọt, tính ôn hòa, giải khát, thanh lương giải nhiệt.
Rau củCÀ CHUACà chua: khi ăn vào bao tử có công dụng phân giải chất mỡ, ăn chung với thịt tránh được tình trạng khó tiêu hóa. Nhưng tính chất của nó là cam hàn, không nên ăn quá nhiều dễ gây ra tiêu chảy, đau bụng. Ăn nhiều làm tổn thương ruột và bao tử.
Vị chua, tính mát, không độc. Ăn thông đường tiểu, trị bệnh đau nhức trong gân cốt, lắt léo, lá có độc, đâm đặt nhọt ghẻ mới phát thì mau lành.
Rau củBẮPNgô, bắp: lớp vỏ ngoài có vật chất xúc tiến sinh thực tồn tại, ăn bắp vừa có thể tang cường thể lực, lao động dẻo dai, mà còn có thể giúp tim khỏe mạnh. Rang bắp cho vàng cháy nấu nước uống hang ngày để được tráng thân kiện thận, tốt cho tim mạch.
Rau củBẠC HÀBạc hà: thuốc cay mát, tán phong giải nhiệt. Cảm mạo không ra mồ hôi, công hiệu phát hạn, thối nhiệt. Bạc hà nấu nước uống giúp tiêu hóa, ăn chậm tiêu, nặng ngực khó chịu. 1 lượng bạc hà tươi, 2 miếng đậu hũ, vài ba cọng hành tươi hoặc hành khô, đậu hũ chiên hơm, bỏ hành và bạc hà sắc nước ăn cả cái lẫn nước. sau đó đổ mồ hôi nhẹ, ngủ một giấc cảm sốt sẽ tiêu.
Rau củCỦ NĂNGMã đề, củ năng: thanh lý hỏa táo, nhiệt khí ở gan, phổi và bao tử. Làm tròng mắt bị đỏ, chảy nước mắt sống, sợ ánh sáng. Miệng khô, mũi nóng, cổ họng bị nhớt vướng, thận tạng và bang quang có nhiệt tiểu tiện ít mà vàng sậm, đại tiện táo bón.
Rau củCÀ RỐTCà rốt: công dụng phát hạn, làm đổ mồ hôi nhẹ và kéo dài. Vào bao tử có thể phân giải và thanh trừ được chất nhầy. Bổ huyết, làm thần kinh ở ngực và bụng được thư giãn. Lợi tiểu, thanh huyết.
Vị ngọt lạt, tính hơi ấm, không độc
Công dụng: dùng trong đồ ăn , hạ khí, thông khoai trong chớn thủy, chẻn dừng, ruột, bao tử và bổ ích cho tạng phủ, thêm sức lực làm cho ăn được nhiều cơm.
Rau củCỦ CẢI
TRẮNG
Củ cải trắng: thanh lương, chỉ khát. Thuốc lợi thủy. Trừ nhiệt độc ở phổi và bao tử. Người có gốc hàn có thể nấu củ cải với tỏi tươi để đề phòng củ cải hàn lương, phá khí. Vì tỏi có tính cay ấm. Phối hợp sẽ không hàn không nhiệt. Cơ thể có hiện tượng phát nhiệt khí, miệng khô và đắng, đại tiện táo bón không thông, ăn củ cải xào tỏi ngày hôm sau đại tiện sẽ thông. Vị ngọt, tính ấm, không độc.
Ăn sống hay làm gỏi tán khí, tan máu ứ, khoan khoái trong chớn thủy, bán mùi tanh cá thịt, thăng khí lên trên. Ăn chín thông khí, tiêu cơm, đàm, hòa giải khí độc 5 tạng . Bớt say rượu, giúp đỡ của tiêu hóa, tiêu thông sự ngầy ngật lình bình bởi ăn đậu hủ, hay bột giáng khí xuống dưới.
Không nên ăn nhiều, ăn nhiều động phong, lấy gừng sống ăn vào thì giải được. Bệnh đau mắt và đau trái giống không nên ăn. Nếu ăn rất nguy hại cho mắt, có khi kéo mây làm đui được.
Rau củKHOAI LANGKhoai lang: thuộc loại hàn thấp khó tiêu. Người bao tử và ruột có thấp nhiệt, kém tiêu hóa, đầy hơi, tức ngực không nên ăn nhiều có thể gây đầy bụng, ợ chua, đau bụng, đi tiêu nhiều hoặc tiêu chảy. Trường hợp ăn nhiều đầy bụng, nấu nước gừng uống sẽ hết đầy.
Rau củCẢI
BÓ XÔI
Cải bó xôi, diệp lục tố có tác dụng làm sạch máu, nên cải bó xôi thanh lý được tích nhiệt trong bao tử và ruột mà còn làm sạch máu da hết sưng đỏ, ngứa, gãi trầy da ra nước nhầy, làm mũ. Do máu nóng gây ra. Tuy nhiên ăn cải bó xôi nhiều có thể gây tổn thương tới thận. Phụ nữ bụng dưới lạnh không nên ăn. Người tỳ thận suy nhược không nên ăn. Có thể dùng nấu với thịt, nấu cho rục, ăn vừa phải.
Rau củHẠT SENHạt sen: trị liệu chứng tỳ hư, đi tả. Người lúc nào cũng gầy gò, da mặt, vàng, tiểu tiện vàng sậm, đại tiện lỏng nát, hay đau bụng là do tỳ vị suy nhược gây ra. Hạt sen từ 1-2 lượng (để cả tim sen) công dụng kiện tỳ, khai vị, chỉ tả, hệ tiêu hóa bình phục trở lại. Hoặc có thể nấu cháo hạt sen ăn thay cơm. Tuy nhiên nhiệt lượng của hạt sen khá cao, bị cảm mạo hoặc ruột có nhiệt khí, đại tiện bón, bụng đầy thì không nên ăn. Hạt sen nên để nguyên hạt, cả vỏ dùng làm thuốc kiện tỳ. Phần thịt hạt sen có tính nóng và khó tiêu (nhiệt trệ), tim sen có tính mát, vỏ lụa hạt sen có sinh tố C nhiều, dùng chung sẽ được trung hòa.
Rau củBÍ ĐAOVị ngọt lạt, tính mát, không độc.
Công dụng: là món ăn chuyên trừ thấp nhiệt, thông đại tiện, tiểu tiện, tiêu trướng nước (thủy trướng) làm cho hết khát nước, trừ đầu mắt nóng nảy. Người ốm nóng nảy, ăn thường mập. Người mập nê trệ ăn thường ốm. Người bệnh ghẻ lim la, uống thuốc có chất độc kim loại nặng (Hg, khinh phấn) sau phát làm độc ăn thường dằng xuống và giải ra được nhưng phải để ruột.
Hạp và cữ: Người thấp nhiệt độc ăn nhiều càng hay nhưng nên chờ vừa trổ p hấn mới ăn. Ăn non quá sợ sinh bệnh lệch bao tử. Ăn vô ói ra (phiên vị) bệnh mới hết và đau trầm trệ, đau cật, di tinh, nhược tinh, sắc dục quá thận hư và phát nóng, hoặc có bệnh đi đái nhiều và nước da khô ốm không nên ăn. Người âm hư không nên ăn nhiều vì tính thông lợi quá làm cho tổn âm
Rau củGIÁ
ĐẬU XANH
Giá đậu xanh có tính chất công dụng khác đậu xanh vì trải qua gúc, ngâm, ủ, tưới, chịu khí thấp nhiệt ỷ ướt, hầm uất mới lên mọng. Vị ngọt, tính hàn, không độc. Giải độc rượu, độc nhiệt, thông tam tiêu, để sống ăn ít mát bao tử, ăn nhiều động thấp lạnh bao tử có khi ói mửa. Chiên chín ăn nhiều cũng hay động khí, sinh ghẻ, làm dưa ăn nhiều phát ợ chua không tiêu. Người bụng yếu có khi ói ỉa. Các loại giá khác cũng bởi thấp uất mà ra nên công dụng cũng tương tự như vậy.
Rau củDƯA
CHUỘT
Dưa leo, dưa chuột là thức ăn của người xứ nóng thường dùng nhưng không bổ lắm. Vị ngọt lạt, tính hàn, có hơi độc. Trong tháng nóng ăn giải khát, thanh nóng bức, thông đường tiểu, trị bệnh miệng lưỡi mọc mục, con mắt đỏ nhặm, nhức đầu, khát nước, khô cổ.
Hạp và cữ: Người lậu nhiệt đái gắt nên ăn, người mạnh cũng không nên ăn nhiều. Ăn nhiều sinh rét, nóng, lạnh, bại, phù, ói, ỉa, tổn âm huyết, sinh ghẻ chóc. Người ngoài da nóng, trong bụng lạnh, bệnh mới hết càng nên kiêng cử. Con nít ăn dễ sinh sên lãi, bụng lớn, da vàng. Là thức ăn không bổ ích lắm mà phải cẩn thận, không nên ăn với dấm nhiều, ăn tất di hại.
Rau củXÀ
LÁCH
Vị đắng, tính hàn, không độc. Bổ gân xương, thông kinh lạc, 5 tạng và khí ngăn kết trong chớn thủy, chẻn dừng. Trừ hơi nóng trong lá mía và ruột. Giải độc ruột, khát nước, nóng nảy, ăn thường răng lần lần trong trắng, thông sáng con ngươi nhưng có hơi làm cho ít ngủ.
Hạp – cữ: Người nóng nảy, khát nước nên ăn. Người bụng hàn lạnh và đàn bà sau khi sinh nở không nên ăn. Ăn hay đau dạ dưới. Cữ ăn với sữa của súc vật và phô mát(fromage). Ăn sinh sên lãi, ăn với mật ong sinh bệnh nội trĩ (trĩ mọc ở trong con trê). Khi ăn phải cắt từ đoạn, rửa nước muối hơi mặn, cho ra sạch nước trắng mới tốt rồi sau trộn dầu giấm ăn.
Rau củHÀNHHành sống vị cay nóng, chín thì ấm, củ, gốc, rễ tính bình, không độc. Là thức ăn gia vị cần có hằng ngày. Dùng trong đồ ăn giết các độc cá, thịt, cua tránh bám mùi tanh nặng , làm cho món ăn thơm ngon, thông khoái, hòa trong thấu ngoài, thông 5 tạng, tai, mắt, lóng thớ, đại tiện, tiểu tiện, thông sữa, an thai, hượt huyết, nên trị được các chứng huyết, tan phong hàn, thấp, đong kết đàm trệ, hơi thông ngay vào phổi và dương khí khấp cả trên dưới, nên trị được các chứng khí, làm ngăn lấp bế trệ trong kinh lạc, giải các thứ độc, sống nồng cay phát tán thái quá, công dụng vào thuốc rất nhiều.
Hạp – cữ: không nên ăn sống nhiều làm cho hao huyết, tổn tâm, hại râu tóc, phát khí sung lên đầu mặt, ngăn tuyệt 5 tạng, thần tối, mắt mờ, nấu thật chín ăn cũng bổ. Những người nóng không nên ăn nhiều, tuy khí nồng cay đã hết nhưng cũng có tổn cho âm huyết, cữ ăn với mật ong, ăn làm ỉa kiết ra máu, ăn với táo phát bụng trướng, xào sơ còn sống ăn với táo, ngăn khí làm nguy hại con người, ăn chung với thịt chó, gân gà, cá gái, chim trỉ làm cho động huyết. Người khí hư hay đổ mồ hôi sống và khi uống thuốc có thục địa, thường sơn cữ ăn.
Rau củKIỆUKiệu sống vị cay đắng, nấu chín vị ngọt gắt tính hơi nóng, không độc, chiên xào ăn bổ hư lao, hàn lạnh, trợ dương khí, thông khí trệ trược trông ruột già và các lỗ trong cơ thể, Trị phong, khí, thủy làm sưng, phát phù mình. Hạ khí suyễn gấp trong phổi. Tan máu ứ, an thai. Người có thai khi ăn dễ sinh, vết đứt dao, ăn thường thì sinh da thịt, nối gân xương mau lành. Ăn thường nhẹ nhàng con người. Làm dưa ăn hạ khí, tiêu thực, ăn cơm được nhiều và có ích cho lá gan.
Hạp và cữ: Đàn bà có máu trắng nấu canh ăn rất tốt. Người khí huyết ngưng trệ và người già nên ăn. Không bệnh đừng nên ăn nhiều quá, ăn nhiều quá động hỏa, hao chân khí và phát bệnh cũ trong mình. Không nên ăn với thịt trâu, ăn kết cục trong bụng. Ăn sống nồng mũi hay mờ mắt, chảy nước mũi, người nóng nhiệt, khát nước không nên ăn.
Rau củTỎITỏi sống vị nồng cay, tính nóng, chính vị bùi thơm, tính ấm, có hơi độc, là thức ăn gia vị làm cho phấn khởi thần kinh, ăn chín mở bao tử mạnh lá mía, thông tạng phủ, nhất là đi lên tạng phổi, làm cho tan đàm, hết ho, trừ được phổi có bệnh kết bạch và thông các lỗ trong cơ thể . Hạ khí, tiêu các đồ ăn đình tích không tiêu hóa thành ra kiết. Làm dưa bớt tánh cay nóng, nồng gắt, ăn thông lợi đường thủy, tiểu đi xuống hạ tiêu, trừ khí tà độc, phá khí lạnh trệ. Giết mùi tanh độc trong các thức ăn và giết các loại trùng độc trong tạng phủ.
Không nên ăn sống nhiều, ăn nhiều tan khí, hao huyết, trợ hỏa, sinh đàm, mờ mắt, tổn thần, hao nguyên khí, ăn với gỏi cá sống cướp mất khí lực con người. Khi uống thuốc bổ và thuốc có thục địa không nên ăn, ăn bạc tóc và giết mất tính chất thuốc bổ. Bệnh mới hết và bệnh phong, bệnh bại, phải cữ, duy bệnh ho lao… ho có đàm, và trong ruột, bao tử có sên lãi. Nên mỗi đầu tháng nhai sống ăn khi bụng đói chừng một tép thì hết ho, giết trừ vi trùng và các thứ trùng khác.
Nướng hoặc chiên chín hoặc làm dưa giấm để lâu, để vào trong thức ăn thì bổ. Trong loại ngũ huân tỏi là thứ nóng, gắt, nồng, cay hơn hết, nồng cay tan khí, nóng gắt tổn thần. Chín bớt tính nóng, có chút vị thơm tho buig ngọt nên có thể đi vào ruột, bao tử, lá mía mà ôn bổ được.
Rau củCỦ HÀNHCủ hành cũng là loại hành nhưng hầu hết chỉ chuyên ăn củ, tính chất khí vị giống với hành lá ta mà ít tính khí thơm, hôi, hăng, bốc, công dụng cũng tương tự mà không có khí vị tính cách nồng cay thăng phát thái quá, ăn sống cũng không tệ hại lắm như hao khí, tán huyết, mờ mắt, tổn thần… còn nấu chín ăn thì biến mất tính khí hành ta mà có vị thơm ngọt, chất bổ nhiều. Làm ra các thức ăn đều có công dụng làm cho cơ thể và thần kinh mạnh mẽ, khí huyết vận chuyển, ăn uống nhiều thêm, làm đầu mối của sự mạnh khỏe không bệnh.
Hạp – cữ: Nếu ăn sống thì tính chất công dụng hạp cũ không xa lắm với hành ta mà nấu thật chín ăn thì không ở trong lệ ấy. Thông thường ai ăn cũng tốt, duy người nóng nảy nên tạm cữ, dẫu rằng nấu chín.
Rau củNGÒ TANgò ta vị cay, tính ấm, hơi có độc là thức ăn thơm, gia vị, giải mùi tanh cá thịt, trừ tất cả khí độc bất chính. Trong thông tim, lá mía, dạ dưới,ruột non, ruột già. Ngoài thấu khắp da thịt chân tay. Bổ gân mạch, hòa năm tạng, tiêu hơi cơm, làm cho ăn được nhiều, là thức ăn chuyên trừ phong, đàm, làm cho mạnh bao tử.
Không nên ăn nhiều quá, ăn nhiều hại nguơn thần, hay quên, đổ mồ hôi sống, ăn chung với rau sống thì thơm mà hay làm cho miệng không biết mùi. Người hôi miệng, hôi nách, đau răng, chân sưng, yếu ớt, dấu dao đứt chưa lành không nên ăn. Ăn các chứng ấy phát nhiều thêm. Khi uống thuốc bổ và thuốc nào có mẫu đơn, bạch truật không nên ăn.
Rau củMĂNG
TRE
Măng sống vị ngọt đắng, chín vị ngọt lạt, làm dưa vị chua gắt, tính hơi hàn, không độc, làm ra các món ăn hạ khí, giải khát, thanh đàm, thông đường thủy, chẻn dừng, cạo sạch cáo căn, dơ dáy trong ruột. Khi nấu nên để chút bạc hà và muối hoặc nước tro thì ăn chẳng gắt mà không làm cho bao tử và miệng ăn mất mùi cơm.
Người mới kiết và ruột, bao tử dơ dáy, đàm nhiều nên ăn, người mạnh không nên ăn nhiều quá làm cho khó tiêu, động lá mía, miệng không biết mùi. Người đau lá mía và ruột, bao tử dộp lở không nên ăn. Con nít và người không được mạnh nên ít ăn là tốt. Cấm cữ ăn chung với gan dê, ăn làm cho mắt mờ, đui được.
Rau củKHỔ QUAKhổ qua vị đắng, tính hàn, không độc. Nấu canh hoặc xào ăn, giải nhiệt độc, mát trái tim, sáng con mắt, trị lao nhiệt, mệt nhọc hoải sức. Trái chín ngoài da ửng đỏ thì chất đắng ít, có chất ngọt xen vào. Nấu canh ăn bổ cật (thận) nhuận lá mía, đường huyết, thêm ích cho lá gan.
Hột ăn lại tốt hơn. Vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, ích khí, tráng dương.
Lá nấu canh ăn cũng ngon, trị các chứng hỏa độc làm nhọt ghẻ và sưng sốt.
Hạp – cữ: Người lao động mệt nhọc ăn bổ sức lực, mát máu huyết. Người có bệnh nghẹn ói, mắt có vảy cá kéo mây làm sưng và bệnh mới hết không nên ăn. Ăn bệnh cũ phát lại khó trị.
Rau củRAU MÁRau má vị đắng ngọt, khí cay, tính bình, không độc. Nấu canh với thịt ăn cũng ngon, trừ được chứng nóng kiết trong tạng phủ, phát lên nhức đầu, đỏ mắt, đau răng, con nít bàn trái nóng lạnh, ghẻ chóc, da thịt phát nóng, dộp đỏ, ngứa lở. Đàn bà đau dạ dưới: đâm vắt lấy nước chế chút giấm uống thì hết liền,trong tháng nắng đâm vắt lấy nước uống với đường, thanh giải khí nóng nực, nhiệt độc.
Rau củKHOAI MÔNMôn có nhiều loại không ngoài vàng, đỏ, trắng là thứ thường ăn. Vị ngọt cay, tính hượt mà bình, có hơi độc. Loại đỏ ăn phát khí, loại vàng sinh ghẻ, loại trắng không độc mà bổ nhiều hơn. Nấu ăn khai thông bao tử, hượt trường nên dễ đi đồng, hạ khí, an thai, chắc da thịt, mập trắng con người. Nấu canh với cá chét, cá bóng ăn bổ hư tổn.
Bẹ làm dưa ăn hạ khí, hết chứng ợ chua mà có hơi chậm tiêu.
Hạp – cữ: Đàn bà đẻ còn huyết ứ, đọng kết lại làm khát nước và các thứ huyết ứ khác, ăn rất tốt. Nên ăn từ tháng 10 đến tháng chạp ta thì tốt hơn. Cách nấu: nên để chút gừng sống, nấu sôi vài dạo, tẻ bỏ nước, đổ nước trong khác vô nấu cho đến chín sẽ dùng vào thức ăn mới tốt mà không độc nhưng tính hơi chậm tiêu, trệ khí và động khí chứa lạnh. Ăn nhiều mệt cho lá mía về sự vận hóa. Người có bệnh phong không nên ăn. Thứ môn mọc ngoài đồng và thứ trồng lâu năm không nên ăn vì rất độc, ăn có khi hại mạng người.
Rau củKHOAI TỪKhoai từ có nhiều loại mà tính chất công dụng vẫn đồng. Vị ngọt lạt, khí cay, tính mát, hơi hơi có độc, mà giải được thứ độc, nấu ăn sung bổ con người, làm cho ít đói, dày chắc ruột, bao tử,, trị chứng ho nóng khô cổ, nấu cho con nít ăn rất tốt, giải được khí độc trái trời, nếu có mọc cũng chút ít mà không làm độc, thông thường ai ăn cũng tốt.
Rau củKHOAI LANGVị ngọt, tính hơi ấm, không độc, nấu làm các loại món ăn, hòa 5 tạng, bổ bao tử, thêm hơi phổi, mạnh trái cật, lá mía, bổ hư lao, sanh máu huyết, an tinh thần, trị chứng thấp nhiệt, phát vàng, kết máu. Người mạnh ăn thường thấm ráo khí thấp nên ít sanh bệnh hoạn. Khoai lang làm vật dùng vào các món ăn ngon tốt, chất bổ lại nhiều, công gần như hoài sơn nhưng ở xứ mình không được nhiều người để ý. Thật một sự khuyết điểm trong ẩm thực học. Phần nhiều người ăn đều nhận là ngon mà không thích lắm vì có tính hơi nóng. Nhưng tính hơi nóng ấy chỉ tại chất mủ. Nếu khi ăn biết cắt đầu đuôi cho mủ chảy thật hết rồi nấu hoặc gọt vỏ, chẻ nhỏ rửa sạch mủ, khi nấu ăn để thêm chút gừng sống thì tính trệ thấp biến mất, đã không nóng, không ngăn khí mà chất bổ lại càng nhiều.
Người đau trĩ, ghẻ chóc, nóng nảy và bụng đầy, cử ăn. Tính hay đi xuống mà trệ khí nên đau trĩ mới hết ăn phát lại rất mau.
Ngọn non tánh hàn, luột ăn mát bao tử, hượt trường. Nên người táo kết nên ăn. Còn người hàn lạnh ỉa chảy phải cử.
Rau củBÍ RỢBí rợ vị ngọt, tính ấm, không độc. Xôi ăn với đường hoặc nấu canh, bổ bao tử, lá mía, thêm khí lực cho con người và có hiệu nghiệm hết sên lải.
Hạp – cữ: Không nên ăn nhiều quá hay ngăn khí, da thịt phát vàng, chân yếu và sưng. Người đau kiết, no trướng, cam tích, rét, ói mửa mới hết, chân sưng yếu, đan trái và đàn bà đẻ không nên ăn, cữ ăn với thịt dê, gan dê và đậu đỏ, ăn rất ngăn khí.
Hột rang ăn ngon béo mà hay rụng tóc và trệ chớn thủy, ngăn khí.
Bông và ngọn ăn cũng ngon bổ, có chất thanh đạm nhiều. Thanh giải khí nóng trên đầu mặt.
Rau củKHOAI
TÂY
khoai lang tây vị ngọt, tính bình, không độc, ăn cũng ngon tốt, hơi ít bổ mà dễ tiêu hóa, nấu hút thêm nước, nướng ráo bớt nước, người đau bao tử không nên ăn khoai chiên. Để sống tán bột xào nóng, bó ghẻ cũng bớt được.
Rau củHOÀI SƠNNấu hoặc làm bột ăn, vị ngọt, tính bình, không độc sung bổ năm tạng, nuôi trái tim, lá mía, bổ cật, sinh tinh, định tâm thần, an hồn phách, cố tính khí, nhuận râu tóc, sinh da thịt, mạnh gân xương, bổ dưỡng các thứ hư lao, tổn kém, biến sinh trăm bệnh không cùng là thứ khoai rất quý, ăn ít cũng bổ, ăn nhiều càng bổ, không có tê bại, trầm trệ, thiên lịch như các thức ăn khác.
Mới đào còn mới, ngậm chứa chất nước, bột trắng nhớt rất nhiều. Chất nước bột trắng nhớt ấy. Nhà hóa vật học phân chất ra toàn là một chất lòng trắng trứng gà (mitiere albuminoide). Nên tươi thì chất bổ nhiều hơn khô đến mấy phần.
Không luận là người nào, ăn cũng tốt, nhất là người tinh huyết hư kém, lưng đau, gối mỏi, đầu xẩm, mắt mờ, nóng nảy sanh phong, tâm thần không định, hay quên hay sợ, thường di tinh và lâu tinh, ăn rất tốt,
Rau củKHOAI MÌVị ngọt, tính hàn, hơi độc. Nếu trồng nhầm chỗ đất dơ bẩn , ổ rắn rít thì càng độc. Ăn phải ói mửa, làm hại con người, thứ trồng ngoài đồng, mọc lâu năm không nên ăn, sợ độc của loại côn trùng. Ngoài ra thì cũng là thức ăn ngon tốt, hòa bao tử, lá mía, phát phổi, thông ruột, sung ích cơ thể con người, làm bột dùng vào các thức ăn cũng tốt mà không độc. Khi bụng đói không nên ăn nhất là mì sượng hay làm ngầy ngậy như say, đàn bà đến tháng vừa hết mà ăn thì có trở lại. Vì tính đi xuống mà lại tán huyết.
Hạp – cữ: người tạng độc, có máu ứ, nên ăn. Người mạnh ăn nhiều quá cũng khó tiêu, nhất là người bao tử, lá mía lạnh, đàn bà sinh đẻ hoặc ương yếu, cổ hay có cục đàm nhớt như hột me khạc nuốt gì cũng không được phải cấm cử.
Rau củNẤM MÈOVị ngọt, tính bình, có hơi độc dùng trong thức ăn hay là nấu canh, ích khí, thông tạng, nhất là thông ruột, bao tử, tan máu ứ, trị bệnh trường phong trĩ lậu, ỉa ra đàm máu, đàn bà băng huyết, lậu huyết, ăn thường giằng được độc loại thuốc cát đá, có trí ghi nhớ và nhẹ nhàng con người.
Hạp – cữ: Người đau trường phong trĩ lậu, ỉa ra đàm máu, nấu canh với ruột, bao tử heo ăn rất tốt. Không nên ăn nấm đỏ vợt hoặc hồng hồng hơi nhớt và thứ mọc đảnh ngược tai lên trên. Nấm nào đen, xám, dày lớn mọc xụ tai xuống dưới thì ăn được. Tự tay mình gỡ lấy cây nào tốt thì nên ăn, mọc vào cây tạp, thứ bán bên ngoài chợ nên kiêng ăn là tốt, nếu ăn không nên ăn nhiều sợ động phong, sinh bệnh trầm trệ, tổn hại kinh lạc, mê muội con người.
Rau củRAU MUỐNGRau muống vị ngọt, tánh hơi hàn, không độc, luộc rồi chiên lại ăn. Bổ bao tử, thông ruột, trừ kiết bón, trị chứng ban, nóng, sai, đỏ, khát nước. Đàn bà sanh đẻ khó khăn đâm vắt nước, chế chúc rượu uống cũng thấy hiệu nghiệm.Người uất bón ăn thường hượt trường dễ đi đồng, người bao tử, lá mía lạnh yếu ỉa chảy, không nên ăn. Thứ ngọn đỏ ăn cũng được nhưng có hơi độc.
Rau củRAU NGỔRau ngổ vị đắng, khí cay, không độc, luộc ăn hòa bao tử, lá mía, thông ấm gan, phổi và 5 tạng, sáng tai mắt. Ăn nhiều tổn chân khí.
Rau củRAU
HÚNG CÂY
Rau húng vị cây, tính ấm, không độc. Là thứ rau thơm ăn sống gia vị, chuyên trừ phong thấp, tán tà khí, thông dương khí, giải ban trái, nóng nảy, chưng chín để đường uống có công dụng bổ phổi, trừ ho lao, khạc máu, ho máu, ói máu và máu cam. Đàn bà băng huyết, bạch đái. Thanh trừ hơi độc trong ruột bao tử, hạ khí, tiêu thực, ợ nước chua, miệng tanh. Đặt rượu uống thông thần kinh, hòa huyết mạch, nhẹ nhàng tươi sáng con người.
Hạp – cữ: Tuy là món trị huyết, thanh khoái hơi phổi mau nhưng tánh cay tan thái quá, người chân khí yếu không nên dùng
Rau củRAU RĂMRau răm vị cay, khí nồng, tính ấm, không độc. Ăn sống hoặc chín đều ấm bao tử, lá mía. Thông hơi phổi nên đái được suông, hòa gân mạch. Là thức ăn có công dụng sát trùng, trị trứng tim lạnh, làm đau bụng và sên lải làm đau bụng.
Hạp – cữ: Ăn ít làm cho có chí ý, khong nên ăn nhiều, ăn nhiều mờ mắt, tổn chân khí, hại xương chủy, giảm tinh khí, đàn bà đương có kinh mà ăn với tỏi thì huyết cứ ra dầm dề chẳng dứt.
Rau củTIÊUTiêu vị cay, tính nồng, tính thật ấm, không độc, dùng làm gia vị trong các món ăn xuống bao tử rồi, có công dụng làm cho kích thích chuyển động bao tử và ruột, lá mía mà làm cho mạnh thêm, ấm thêm, phấn khởi tinh thần, tuy là thức ăn cay thơm mà lại hạ khí, khoan khoái chấn thủy, trị hàn đàm no hơi, phong lạnh ẩn trong tạng phủ, làm ra ói ỉa, kiết lạnh, bợn dạ ăn chẳng tiêu, giết trừ tất cả mùi tanh độc cá, thịt, cua trạnh, rau, nấm và trong các đồ ăn.
Người bao tử lạnh, nên ăn thường, tuy là thức ăn gia vị thông dụng phải có hằng ngày nhưng không nên ăn nhiều quá, ăn nhiều trái lại có hại cho bao tử, ruột, lá mía, tổn phổi, động huyết, trợ hỏa, mờ mắt và có bệnh răng. Người đau về các chứng huyết, ho khan, máu nóng, nhức đầu, không nên ăn. Nếu ăn tiêu ta nên ăn tiêu còn vỏ (poivre noire) vì tiêu còn vỏ hay hơn tiêu sọ.
Rau củXẢSả vị cay thơm, tính ấm, không độc, dùng vào trong thức ăn trừ khí tanh hôi dơ lạ, bụng lạnh làm đau bụng, bán mùi tanh độc, nấu nước tắm cho con nít hết bệnh phong, ngứa, ghẻ, sải.
Rau củSO ĐŨASo đũa có 2 loại, loại bông trắng và bông đỏ nâu. Bông trắng ăn mềm và ngon hơn là loại rau phổ thông phần nhiều chỉ ăn bông nhưng trái dày non luộc rồi chiên thịt lại ăn ngon hơn bông, vị ngon cũng như các loại đậu. Còn lá dày non nấu canh, nhất là canh chua ăn lại càng ngon… Bông, trái, lá đều có vị ngọt, đắng, tính hơi hàn, hơi độc, làm ra các thức ăn như luộc, nấu, chiên, xào, làm dưa đều bổ phổi, thông chấn thủy, chẻn dừng và thông lớp màng mỡ bọc quanh trái tim (tâm bào lạc) thông kinh lạc, tán huyết, giúp cho nước tiêu hóa bao tử, và cũng bổ bao tử, thông sữa.
Thịt, cáVI CÁVi cá: chứa nhiều chất keo và chất vôi, bổ máu, tráng thận, mạnh phổi và trị được chứng xương mềm.người bị xuất huyết nội tạng chỉ đơn độc dùng vi cá làm thức ăn trị liệu vừa không kích thích cơ thể vừa tránh được tác dụng phụ của thuốc, lại hỗ trợ tinh thần và thể lực của bệnh nhân. Ngâm vi cá trong nước cho thật mềm, rửa sạch, dùng gừng và hành nấu nước sôi trụng vài lần, vớt ra rửa sạch, bỏ vô thố them thịt heo, chưng cách thủy mấy tiếng đồng hồ. trước khi ăn nêm muối, nước tương cho vừa ăn. Dùng làm thức ăn bồi bổ cho người phổi và thận yếu, thần kinh suy nhươc, mất ngủ, thiếu máu, hư nhược sau giải phẫu.
Thịt, cáHEOHeo: Là thịt trắng, lành tính trong các loại thịt. Thịt nướng lên có khói chất độc khí phenol gây ung thư. Trứng kho thịt mỡ tạo colesteron gây tim mạch. Thị ram tương đương thịt nướng mà ko độc. Thịt kho tàu bỏ thêm trứng gà tăng colesteron. Thịt đông có nhiều chất keo da tăng colesteron.
Đuôi heo và đuôi bò đều có công dụng bổ thận, Nếu dùng đuôi bỏ người ta phối hợp với mía lau, củ năng giúp hương vị thơm ngon, lại ăn không ngán, mùi tanh ít. Đuôi bò nấu dấm ngọt có vị chua kích thích khẩu vị dễ ăn, nhưng người gốc nhiệt, âm hư hỏa thịnh, sức khỏe kém lại nóng trong người thì không nên ăn.
Nội tạng, lòng phu heo mà có lỗ thủng xuyên qua thì đừng ăn.
Cật heo tánh lạnh; Người hư hàn và cật lạnh không nên ăn, nhưng cật dẫn vào cật thì hay, người cật nóng ăn rất tốt, còn người cật lạnh, nên gia thêm món ăn bổ ấm vào thì càng tốt.
Huyết. — Vị mặn, tánh bình, không độc. Con nào mập mạnh không bịnh hoạn gì cả, ăn cũng sanh huyết, bổ huyết, giằn độc loại thuốc cát đá, và giải các thứ thuốc độc, và các khí độc ở xa phong-thổ xứ mình.
Thịt, cáGÀGà: Thịt gà khí dương, ung thư ăn được ức gà, không ăn đầu cổ cánh chân có phong gây ách tắc. Bị sốt rét nấu cháo gà với củ hành tây ngò tiêu đủ chất bổ, kháng thể mau khỏi bệnh. Gà ác lông trắng, chân thịt đen. Phế kim sanh thận thủy. Ăn vô bổ thận bổ phổi. Ng mới săn, mới bệnh dậy ăn tốt. Gà ác nấu cà rốt, gừng non.
Gà mái già:khu phong bổ huyết. không nên dùng gà trống. Gà mái già sớ thịt to, dai, xương cứng nhưng dùng làm thức ăn trị liệu, bồi bổ cho người kém sức khỏe, người bao tử lạnh, có nhiều phong, người vì yếu mà không tiếp nhận được chất bổ, thì gà giá lại hơn hẳn gà tơ. Canh gà tiềm + dấm đỏ bổ huyết, nhiều dinh dưỡng, trị thiếu máu. Súp thịt gà với cà rốt, khoai tây. Bị sốt rét nấu cháo gà với củ hành tây ngò tiêu đủ chất bổ, kháng thể mau khỏi bệnh.
Thịt, cáVỊTVịt: âm, thịt vịt rất lạnh. Ăn với nc mắm gừng
Thịt, cáBÒBò: có khí dương, bị phong k dc ăn thịt bò. Bò sữa phong nhiều nhất gây ngứa. Bò là thịt đỏ, ng bịnh gout không ăn. Lá lốt cuốn thịt bò giảm được phong, lá lốt tính ấm làm thông khí.
Thịt, cáCÁ BASACá ba sa: da trơn, thịt trắng, so với các loại cá thì dương, ăn bổ não, nhiều mỡ tốt, nạo loại mỡ xấu đóng nhũ. Cá hồi: đầu cá hồi nhiều omega-3. Mỡ cá tốt. Cá hồi là thịt đỏ, có phong. Người bị phong không ăn được.
Thịt, cáDÊDê: khí dương nhiều do mùi hăng nồng. Thịt dê là thịt đỏ, dương hơn thịt bò, không có phong. Thực phẩm dành cho ng ung thư kiệt sức. Soup thịt dê nấu gừng non, củ cà rốt bồi bổ. Ng bịnh gout k nên ăn. Thịt dê: có dinh dưỡng cao, nhiệt lượng cao. Người thân nhiệt kém, tay chân lạnh, nên dùng thịt dê làm món ăn tang nhiệt lượng.
Óc. — Có độc! Không nên ăn, ăn phát phong, kinh, có hại; Ăn óc dê đầu đen mình trắng thì sanh ghẻ ruột. (Trường-ung).
Xương. — Vị ngọt, tánh ấm, không độc. Nấu xúp (soupe) lấy nước uống, rất bổ-dưỡng, nhất là xương sống, thì bổ thận càng nhiều, giúp cho mạch. “Đốc” được mạnh-mẽ, nên hết đau lưng, đau xương sống. Với đàn ông ăn trị được bịnh di-tinh, lậu-tinh; Với đàn bà trị được bịnh bạch-đàm, bạch-đái.
Sữa dê. — Vị ngọt, tánh ấm, không độc, uống tươi rất bổ-ích cho cơ-thể, nhuận tim phổi, sanh tinh-chuỷ, bổ cật, thông ruột già, trừ các chứng hư-lao khổ-tổn. Đau cuốn bao-tử; hoặc bịnh lệch bao-tử, ăn vô ói, thường thường uống rất tốt.
Thịt, cáDÊThịt. — Vị ngọt, tánh ấm, không độc. Ăn làm cho bổ khí, thêm huyết, giúp ích cho trái cật, tráng-dương, an tâm-thần, định kinh sốt, trị các chứng hư-lao thiếu kém, bổ-dưỡng mập-mạnh con người. Đàn bà sanh-đẻ hư-yếu, hoặc không bịnh, ăn rất tốt. Người phổi, lá-mía yếu, nên ăn.
Loại dê đầu trắng mình đen, đầu đen mình trắng ăn không tốt, 1 sừng, hoặc 4 sừng, có độc; ăn sau hay phát ghẻ độc. Nếu ăn lở, nấu nước cam-thảo uống, thì giải được. Đàn bà có thai mà ăn thường, sau sanh con hay nóng. Người đau rét, nóng, khát nước, thổ-huyết, kiết nóng, ghẻ độc đương phát, và các chứng nóng-nải, khô-táo, không nên ăn.
Riêng thịt dùng trong các thức ăn mà có để thêm trái noix (Hồ-đào) thì không hôi mùi dê.
Thịt, cáCHÓChó: Là thịt trắng, nhưng nóng, đàn bà có thai ăn thịt chó bị nóng phổi, bao tử đẻ con bị câm nói tiếng khan. Thịt chó khó tiêu phải ăn cùng riềng đỡ hôi đỡ tanh.
Thịt, cáẾCHẾch: âm, lạnh phải xào xả ớt, cari, nấm rơm, lá lốt, tía tô cho ấm. Hoặc chiên lên để biến dương. Ăn trúng sình bụng phải lấy lá lốt đốt lên sao vàng hạ thổ uống.
Thịt, cáLƯƠNLươn: âm, lạnh, làm cho ng ốm yếu xanh xao mà người lúc nào cũng nóng ăn. Thịt lượn bổ chân âm, cháo nấu đậu xanh. Ng ko bị nóng mà ăn bị lạnh.
Thịt, cáCÁ CƠMCá cơm: con nhỏ, ăn cả đầu và mắt, làm sáng mắt vì đôi mắt cá cơm có nhiều chất lân. Chất lân có công dụng giữ gìn sức khỏe của mắt, còn chất vôi bổ máu và củng cố xương. Cá cơm vị ngọt lạt, tánh ấm. Không độc. Nấu canh hoặc kho ăn, cũng thông khoái trung khí, mạnh bao tử. Còn làm khô ăn cũng được, nhưng dầu ăn cách nào mà ăn nhiều cũng nóng, và động khí.
Thịt, cáCÁ CHÉPCá chép: công dụng xúc tiến việc bài tiết nước, làm hết thủy thủng. Người bí tiểu tiện đi tiểu ra từng giọt, ăn cá chép sẽ thông tiểu tiện trở lại. Cá chép ướp muối, nước tương, bắc chảo chiên cho thơm rồi mới nấu canh, hương vị sẽ đậm đà mà không có mùi tanh. Người đã bị truyền nhiễm, ung thư, ghẻ mủ, loét bao tử đều không nên dùng món này.
Thịt, cáHẢI SÂMHải sâm: bổ thận, ích âm, nhuận táo, thông trường, tư âm trợ dương. Thức ăn bồi bổ sau một cơn bệnh. Tính chất ôn hòa, không hàn không táo. Mặc dù có nhiều chất keo nhưng không có dầu mỡ nhiều, sau khi ăn ít khi cảm thấy đầy bụng, khó tiêu. Hải sâm: công hiệu bổ thận, bổ âm, tráng dương, bổ tinh, nhuận táo, bổ máu. Ngoài trường hợp đang bị sốt ho chưa hết, thì cử không nên ăn, ngoài ra dù người gốc hàn hay gốc nhiệt đều ăn được không có vấn đề gì.
Thịt, cáBÒThịt bò: bổ tỳ vị, lý hư nhược, không khác vị thuốc bắc kỳ, hoàng kỳ. người tỳ hư, bao tử yếu tiềm thịt bò với nước. cảm mạo chưa hết, còn ngoại cảm phong hàn, chứng ho chưa hết, bao tử và ruột có thấp nhiệt, đại tiện lỏng nát thì không nên dùng. Bao tử bò: bổ trung, ích khí, giải độc, ích tỳ vị. Dùng trị chứng ruột và bao tử tích nhiệt tích trệ của trẻ con. Dùng bao tử bỏ không nên lột bỏ lớp màng đen, đó không phải đồ dơ, không có ảnh hưởng tới vấn đè vệ sinh.
Nạm bò: đối với người tỳ thận đều suy nhược, nạm bò nấu canh thanh đạm để bồi bổ sức khỏe dùng được cả 4 mốn, 1 cân thịt nạm 3 lượng sanh khương, nạm bò xắt miếng, đổ nhiều nước nấu cho đủ lửa, vớt xác, vớt mỡ, dùng muối nêm vừa miệng. Có thể phối hợp hoài sơn, kỷ tử để bổ khí, bổ huyết. Nhưng phải nấu cho đủ lửa thì mới có ích. Nấu và hầm xen kẽ, là cách dùng lửa to nấu sôi chừng nửa tiếng, rồi hạ thấp lửa, đậy nắp kín không cho thoát hơi để lâm râm nửa tiếng. Rồi lại lặp lại vừa nấu vừa hầm chừng vài ba vòng, cho dù là nạm bò già cũng phải mềm rục ra. Nấu như vậy để nạm bò tan ra hết trong nước, sức bổ dưỡng sẽ tốt hơn nhiều.
Thịt, cáDÊThịt dê: ích trung bổ hư, ích khí huyết, tráng dương đạo, tang thể lực, có thể làm thuốc bổ dưỡng tang sức. Người bao tử lạnh, nhiều phong, bao tử kém tiêu hóa dùng đương qui và huỳnh kỳ không thích hợp, bị khó tiêu. Nên dùng thịt dê 1 cân, sanh khương 3-4 lượng nấu canh ăn. Sanh khương đuổi hàn trợ tiêu. Óc động vật có hàm lượng đạm rất cao, ăn quá nhiều dễ bị khó tiêu, ngừi kém tiêu hóa hoặc phân giải chất đạm yếu không nên ăn.
Thịt, cáLƯƠNLươn: công dụng bổ và ấm. Vừa bồi bổ cơ thể lại có thể đuổi phong thấp trong cơ thể.
Thịt, cáTRAITrai nước ngọt: “bạn lệ” nước mắt con trai, có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp lại có thể giải cổ độc, chất độc dùng để “thư” của một số dân tộc. Thịt trai có tính mát, nhuận trường, ăn nhiều sẽ đi tả. Sỏ dĩ nó có thể thanh trừ chất độc là nhờ ở đặc điểm này. Dùng mười mấy con trai lớn, để nguyên cả vỏ, them một ít nước, dùng lửa nhỏ nấu cho sôi. Tất cả nước trong con trai cũng chảy ra hết, nước đó là “bạn lệ”. Nấu chừng tiếng đồng hồ, lọc lấy nước trong nồi rồi uống hết.
Thịt, cáHÀU,
HÀO
Con hàu: người có bệnh di tinh, có nhiên nguyên khí đã bị suy yếu, sức tiêu hóa kém, nếu ăn nhiều thịt và dầu mỡ sẽ khó tiêu hóa. Thịt hàu là thức ăn khó tiêu, ăn vào dễ bị đầy bụng ngủ không yên giấc. Cho dù tác dụng tráng dương của nó kích thích cơ năng nội tiết của hệ thống sinh thực, gây ra hiện tượng di tinh, mộng tinh. Dùng hàu tươi không thích hợp. Dùng hàu khô, làm trị liệu chứng tinh loãng, xuất tinh sớm sẽ có hiệu quả tốt. Người thiếu máu, thỉnh thoảng dùng canh hàu khô nấu thịt heo nạc sẽ có công hiệu bổ huyết. Ăn hàu khô, thường dùng với rong tóc (phạt xôi) vì hàu khô là thực phẩm béo bổ, rong tóc thanh đạnh nếu nấu chung sẽ trung hòa. Người có bệnh bao tử, bao tử loét, dễ bị thấp nhiệt, sinh tiêu chảy, hoặc bị viêm mạn tính màng ruột đều không nên ăn thịt hàu.
Thịt – Hào vị ngọt mặn, tánh hơi hàn, không độc. Ăn rất ngon. Làm ra thức ăn gì cũng bổ tốt cả, mà lại làm cho tươi sáng mịn nhuyễn gương mặt. Và cũng mịn nhuyễn da thịt trong cơ thể nữa. . Ăn sóng với giấm, gừng, giải độc loại thuốc cát đá. Và giải độc rượu. Sau khi uống rượu bị khát nước khô cổ ăn thì hay. Còn làm ra thức ăn gì mà có để chút gừng sống thì càng tốt nữa. Người hượt tinh, lá mía lạnh yếu, không nên ăn.
Thịt, cáCUACua: cua gạch, của chắc thịt, cua óp (thủy giải), khi dùng làm ăn thức ăn trị liệu, người ta dùng cua óp, loại cua ít thịt. Thịt cua có vị mặn, tính hàn, có thể tan huyết ứ, nối liền gân cốt. Mặn có thể làm mềm vật cứng, nên phàm bị sưng độc, kết thành khối cứng, do máu ứ gây ra, dùng sẽ có hiệu quả trị liệu. lạnh có thể dẫn chất độc của bệnh đi xuống, theo đường đại tiểu tiện mà bài tiết ra ngoài. Do thịt cua mặn và hàn nên có thể làm tiêu khối cứng, lại có thể dẫn bị đi xuống dưới bài tiết ra ngoài. Chứng đổ mồ hôi đêm của trẻ do nóng trong mình gây ra, ban đêm ngủ không yên, khắp người đổ mồ hôi, da thịt vẫn ấm áp không đắp mền, ban ngày vẫn vẫn bình thường, có thể nấu cháo cua óp cho trẻ ăn, hiệu quả tốt. Tuy nhiên không dùng được với chứng đổ mồ hôi do suy nhược. Người nội tạng lỡ loét, ung thư không nên ăn cua.
Thịt, cáCÁ LÓCCá lóc: nếu khác đàm khó khan, phổi và bao tử có nhiệt, miệng hôi, suốt ngày cứ thấy khát nước, bị bệnh trong giai đoạn trị liệu cần phải kiêng cử, lấy cá lóc làm thức ăn chẳng những có ích mà không có hại gì. Vì nó ít chất béo, người tiêu hóa kém ăn vào cũng không sao. Chưng thịt cá lóc lấy nước uống có thể giảm bớt đau đớn do chứng loét bao tử gây ra, cũng thích hợp cho người vừa khỏi một cơn bệnh nặng hoặc người mới giải phẫu xong. Người quá suy nhược, không tiếp thu được chất bổ dưỡng, dùng cá lóc bồi bổ cũng không có phản ứng xấu.
Thịt, cáTRỨNGLòng trắng trứng gà: Bị sưng đỏ, làm độc, vừa ngứa vừa đau, long trắng phết lên chỗ bị bệnh, công dụng trừ phong và làm hết sưng. Bị té, bị đánh, bầm, sưng, long trắng thay nước hoặc rượu, hòa với bột trật đã bôi lên chỗ sưng bầm hết đau rất nhanh. Ăn trứng gà nhiều sẽ bị thừa đạm khó tiêu. Cách ăn tốt nhất là đập ra chén, them ít nước đánh đều, đem chưng chin để ăn. Khi bị cảm sốt, khó tiêu không nên ăn trứng gà.
Thịt, cáỐC BƯUỐc bưu: người gốc hàn, tiêu hóa kém không nên ăn ốc bưu vì có tính hàn. Khi có dịch tiêu chảy, thổ tả tuyệt đối không nên ăn bất cứ loại ốc nào.
Thịt, cáỐC
MÓNG TAY
Con móng tay: ngọt, tính ấm, thích hợp cho người cơ thể suy nhược. Thịt nấu canh lấy nước uống, bao tử ruột sẽ mạnh trở lại, trị chứng kém tiêu hóa, khả năng hấp thụ dinh dưỡng trở lại bình thường. Tuy nhiên, thanh niên khỏe mạnh, người vừa cảm sốt, đều không nên ăn, người tiêu hóa kém cũng không nên ăn. Vì nó là loài nhuyễn thể, ăn nhiều bị thấp nhiệt, nóng. Thịt móng tay phơi khô, nấu canh với heo nạc công dụng bổ âm, bổ máu.
Thịt, cáSÒ HUYẾTSò huyết: thịt có công dụng bổ máu rất tốt, người tiêu hóa kém nên ăn ít vì nó hơi khó tiêu. Muốn ăn nên làm thành món nửa sống nữa chin, nếu nấu thật chin thịt sẽ hết ngon mà chất dinh dưỡng cũng bị phân hủy. Ăn sò huyết chỉ cần nhúng vào nước sôi, cho vừa hé miệng, lấy ra tách vỏ ăn với tương cay ngọt.
Thịt, cáMỰCCon mực: hàm lượng men cao, chất nhựa nhiều, có nhiều vôi nên có công dụng bổ máu. Mực nấu canh có thể hạn chế chất chua trong bao tử. Khi phơi khô, mực khó tiêu hóa, nấu canh phải nấu đủ lửa, và không nên ăn xác. Nang mực có chất vôi lân toan, vôi than toan rất nhiều, dùng làm thuốc thu liễm cầm máu rất tốt.
Thịt, cáCÁ LÓCCác lóc thịt vị ngọt, tánh bình, không độc. Ôn hòa bao tử. Bổ lá mía. Sanh da thịt. Giúp các bịnh hư yếu. Người đau và người đẻ ăn vẫn tốt. Ăn nhiều cũng không hại. Và không cấm kỵ điều chi.
Thịt, cáCÁ THUCá thu thịt vị ngọt, tánh bình không độc. Chưng hoặc hấp, kho ăn đã ngon mà lại thông khoái bao tử, bổ lá mía. Thông đường tiểu. Cử ăn chung với thịt gà.
Thịt, cáTÔMTrong 3 thứ, thứ nào cũng bổ trung ích khí làm cho thân thể được cường tráng cả. Nhất là làm cho da thịt mau sanh lớn ra. Nên những người có ghẻ mà ăn tôm, thịt sau khi lành hay lồi. Đò là hiệu nghiệm của sự sanh da thịt vậy.
Tôm làm ra khô, thường kêu là tôm khô, phổ thông đều ăn. Vị đã ngon mà lại bổ thận.
Xứ ta ai lại chẳng ăn tôm tép. VÌ là món thực phẩm hàng ngày. Mà cũng là vật ngon, nhưng không nên vì thế mà ăn nhiều quá, hay dẫn phong đàm. Sanh ghẻ chóc. Phát ho. Con nít cho ăn nhiều quá làm cho chơn yến lâu đi. Người có bịnh ho đàm, và suyển phải cử.
Con nào không râu. Không chơn. Và luộc rồi mà sắc vẫn còn trắng, thì có độc. Không nên ăn.
Thịt, cáBÒBò theo người Tàu cho cũng là một loại với Trâu. Tánh-chất có hơi khác. Trâu tánh lạnh, thông thuỷ-khí, bổ lá-mía nhiều hơn; bò tánh ấm, thông thổ-khí, bổ bao-tử nhiều hơn, nhưng thịt bò mềm ngon mà bổ khí nhiều, và người dùng cũng nhiều. Gần đây các nhà y-học và cả thế-giới đều công nhận là thức ăn bổ dưỡng hằng ngày phải có, dùng trong các thức ăn, bổ 5 tạng, thêm khí-lực, dưỡng bap-tử, sanh da thịt, trừ chứng tiêu-khát, hay chảy nước vải, chơn yếu, lưng đau,
Sữa bò. — Vị ngọt, tánh hơi hàn, không độc; Dưỡng tim, phổi, bổ hư-lao, nhuận da thớ và ruột già, giải nhiệt độc, khát nước, rất hạp cho người già, và người phong nhiệt bón nất. Khi dùng nấu sôi chờ nguội-nguội lần lần uống xuống thì rất tốt.
Trái câyHOA CÚCHoa cúc: bình can, tiêu phong. Cúc hoa nấu nước hằng ngày bình can hỏa, tính nóng nảy sẽ được giảm bớt. thanh trừ nhiệt khí, đề phòng nhiệt khí rất an toàn. Nếu đôi mắt bị mệt mỏi, dùng 2-3 chỉ hang cúc hoa chế nước sôi uống, đồng thời vớt xác đắp lên mắt, đôi mắt sẽ được khôi phụ. Hàng đêm dùng bôc cúc đắp mắt có lợi chứ không hại gì.
Trái câyTRÀTrà: thức uống có vị ngọt, hơi đắng, tính lạnh, mùi thơm nhe. Trà làm mạnh tim và lợi tiểu tiện. Hàm lượng nhu toan trong trà có công dụng thu liễm, nếu ruột và bao tử có nhiệt khí gây ra tiêu chảy, có thể dùng lá trà cầm chứng tiêu chảy. Lá trà, nhất là trà xanh, có hàm lượng sinh tố C rất phong phú. Tuy nhiên không nên uống trà quá đậm hoặc quá nhiều làm suy giảm sức tiêu hóa của ruột và bao tử.
Trái câyTÁO ĐỎTáo đỏ công dụng bổ máu, táo đen bổ và dưỡng huyết, mặc dù hiệu quả chậm nhưng dùng lâu dài, hiệu quả tin cậy và an toàn.
Trái câyDƯA
GANG
Dưa gan vị ngọt, tính hàn, không độc. Ăn tươi thông được ruột non, ruột già, đường tiểu, giải độc rượu, phiền táo, nóng bức, trị miệng có ghẻ, ngọc hành sưng nóng làm ghẻ, xào thịt nấu canh ăn thường dày chắc ruột, bao tử, ngâm nước tương, làm dưa và làm các thức ăn khác đều bồi dưỡng cơ thể, bổ ích con người. Để chín ăn đường rất mát là thứ dưa người mình thường dùng.
Hạp – cữ: Người nóng nảy lâu nhiệt nên ăn. Người mạnh cũng không nên ăn nhiều quá, ăn nhiều động khí, sinh ghẻ, phát tối mặt choáng váng, làm nóng lạnh, lạnh ruột, đau bụng, con nít nên kiêng ăn. Cữ ăn chung với sữa trâu, sữa bò, pho mát (fromage), cá làm mắm. Trong khi bụng đói, ăn làm cho cuống bao tử bị đau, cũng không nên để cho lừa, ngựa ăn nhằm dây lá hoặc trái, ăn nhằm con mắt bị dộp lở và hư đi.
Trái câyMẬT ONGMật ong vị ngọt, tánh bình, không độc. Hồi chưa thắng hơi mát, thắng rồi hơi ấm. hằng bữa uống: bổ trung ích khí, điều hòa tạng phủ, bổ các sự hư lao thiếu kém trong người, làm cho tươi nhuận gương mặt, thông sáng tai mắt, an hòa dinh vệ, thông lợi tam tiêu, nhuận táo, hượt trường, giằn bịnh ho suyễn, trừ bịnh kinh rút (giản) và trừ khí tà độc trong ruột, bao tử, làm đau thắt nóng nảy.
Trái câyCHUỐIChuối sứ có chất chát co bóp, trị viêm làm giảm men gan. Trị viêm khớp, 1 ngày 1,2 trái bù được chất nhờn cho khớp. Chuối cau ngọt cho ng bệnh nặng, cho ng bệnh ung thư, trẻ nhỏ, người già ăn, giữ cho dinh dưỡng cân bằng, bổ chất đường tự nhiên. Chuối già; có tính gần với hàn trệ, lạnh, khó tiêu, người bao tử ruột yếu không nên ăn. Phổi yếu, đàm nhiều, bệnh suyễn đều không nên ăn. Thức ăn trị liệu nên chọn chuối sứ tốt hơn.
Trái câyBƠBơ: có nhiều dinh dưỡng, bù dầu, trị nám, nghiền mịn đắp mặt đẹp da. Ăn nhiều bị nặng bụng khó tiêu.
Trái câyBƯỞIBưởi: uống nhiều gây chua, hại bao tử, chua vô gân hại gân. Nước bưởi hạ colesteron, nạo mất mỡ ngoài da. Bưởi: Người ruột và bao tử yếu không nên ăn bưởi, người phế hàn, nhiều đàm, người bị suyễn không nên ăn một loại bưởi nào. Bưởi: giúp tiêu hóa, giải độc rượu, trị hôi miệng cho người nghiện rượu, tẩy khí xấu ở ruột. Do bươi có tính hàn nên người gốc hàn, tiêu hóa kém, dễ tiêu chảy, thiếu máu hoặc phổi yếu đàm nhiều không nên dùng. Vỏ bưởi khô nấu nước tắm gội có công dụng trừ hiện tượng phong nhiệt trên da.
Trái câyDƯA HẤUDưa hấu: tính 2 mặt, âm, ngọt âm bổ huyết nhưng âm hàn, ăn dưa hấu chấm muối ớt. Ăn nhiều vô lạnh huyết, yếu k nên ăn. Bà bầu, bà sanh k nên ăn.
Trái câyDỪAUống nhiều lạnh thận, đi tiểu nhiều dồn khí nóng lên phía trên làm hắt xì sổ mũi. Nếu bệnh lậu là nóng, đi tiểu lắt nhắt, nước tiểu vàng, viêm tử cung, bàng quang uống nc dừa tốt vì đưa cái mát xuống. Nước cốt dừa là chất béo tốt chị được mỡ xấu. Trái dừa: Cơm dừa cứng, người kém tiêu hóa, đau bao tử không nên dùng. Nước cốt dừa tươi có công dụng bổ huyết, chưng gà, nấu thịt rất bổ dương. Tuy nhiên nước cốt có hơi táo nóng, bao từ và ruột có nhiệt, can hỏa táo thịnh, thỉnh thoảng bị đau cổ không nên ăn cơm dừa, uống nước cốt dừa tươi dẫn đến táo nhiệt hoặc viêm cổ họng. Nước dừa tươi tiêu khát, ngăn thổ huyết, tiêu thủy thủng, giải thử nhiệt. chỉ khát, thanh nhiệt nơi phế vị và nhuận trường, bình can hỏa. thích hợp với người có bệnh nhiệt tính. Nước dừa tươi có tính hàn lương, người có gốc hàn không nên dùng.
Trái câyMẬNMận: nạo mỡ, nạo colesteron, chát trị được nước chua. Nạo đường trong máu trị tiểu đường, chấm muối ớt trung hòa. Ăn trái mận tốt như trái ổi có nhiều tế bào xớ dai.
Trái câyỔIỔi 1 quả/người chất chát nạo mỡ trong máu, kích thích tuyến tụy sản sinh isulin, ăn nhiều nặng bụng khó tiêu, ổi cân bằng đạm mỡ trong máu. Trái ổi: trị liệu thương tích bầm ứ, bệnh đường ruột, bệnh kinh nguyệt. Lá ổi, hái đem phơi khô, ngâm rượu, trong uống ngoài thoa trị máu ứ, chỉ thống làm hết đau. Khi trời nóng bức, ngứa ngáy, nổi rôm sảy, dùng lá ổi nấu nước tắm cũng hết sưng ngứa.
Trái câyLỰULựu: trị ấu trùng lãi trong máu (ra gió, tắm ngứa > có ấu trùng lãi). Lựu đỏ lưu thông máu huyết trị được huyết khối, nhồi máu tim. Ăn nhả hột, ăn hột bị táo bón.
Trái câyMẴNG CẦU
XIÊM
Mẵng cầu xiêm vị chua, có tính giáng khí. Nhức răng uống sinh tố mãng cầu làm giáng khí hết nhức răng. Ho khan cổ, khí nghịch lên uống sinh tố mãng cầu giáng khí. Huyết áp cao say sinh tốt uống giúp hạ huyết áp. Mãng cầu mùi hắc nên tấn công tới tận nguồn trong như xạ trị hóa trị (giống xạ hương) – mùi hương mạnh, phá dc khối cứng ung thư. Ung thư lấy trái mãng cầu xim còn non sao vàng hạ thổ uống.
Trái câyMÃNG CẦU
NA
Mãng cầu ta là trái na ăn vô bổ nhưng nóng
Trái câyTRÁI TÁO
(BOM)
Canh trái táo bom với thịt heo nạc, nhuận phế, thanh táo khí, trừ đàm, trị ho, khai vị. Trái táo bom có công dụng tiêu đàm, trệ hạ hoặc tiêu chảy thấp nhiệt đều thích hợp dùng trái bom. Sau bữa cơm ăn một quả, bao tử và ruột sẽ được điều chỉnh.
Trái câyĐU ĐỦĐu đủ: (quả sắp chin nhưng thịt vẫn còn cứng:, chất men của nó vào bao tử và ruột giúp tiêu hóa, phân giải đạm động vật, đưa chất đạm dư thừa bài tiết khỏi cơ thể. Men đu đủ tác dụng như men pepsin dạ dày, giống men trypsin tụy tạng, có tác dụng tiêu hóa chất thịt. Người cơ thể suy nhược, tỳ vị bị hàn trệ nên ăn đủ đủ chưng, hoặc lấy đu đủ nấu thịt nạc, khoảng 3 tiếng trở lên.
Trái câyCAMCam: cam ngọt nhuận phổi, trừ táo nhiệt, trợ tiêu hóa, làm mịn da, thông đại tiện. Tuy nhiên người thận khí yếu không nên ăn cam, dò là ngọt hay chua. Cam: cam ngọt phù hợp cho người bệnh mới khỏi, trợ tiêu hóa, làm mát tạng phủ, tại tiện thông nhuận. Cam Mỹ có vị chua nặng, người bao tử yếu ăn nhiều sẽ tiêu chảy. Vỏ cam làm ô mai cam thảo, trợ tiêu hóa, giải rượu. Người thận khí hư nhược, thần kinh suy nhược không nên ăn cam chua.
Trái câyTÁO TÀUHắc táo, hồng táo, nam táo đều có công dụng bổ tỳ kiện vị. Nam táo còn có kiện tỳ cố thận. Nhưng phần đường và chất nhựa nhiều, có thể làm bao tử no đầy, khó tiêu. Mỗi ngày chỉ nên ngậm và nhai nuốt từ từ 3-4 quả nam táo, duy trì lâu dài sẽ có hiệu quả kiện tỳ, cố thận.
Trái câyLONG NHÃN,
NHÃN NHỤC
Long nhãn, nguyên nhục: dưỡng tâm, an thần, trị huyết hư, hồi hộp. dễ quên, tim đập không bình thường, mất ngủ và suy nhược thần kinh, mỗi lần không nên ăn quá nhiều sinh táo hỏa, khó tiêu hóa. Bổ huyết dưỡng tim, trị chứng huyết hư, hồi hộp. Là một thứ thực phẩm bồi bổ tuyệt vời, dùng để điều lý tim, tỳ bị hư nhược sẽ có hiệu quả rất tốt. Nguyên nhục có sức bổ hỏa mạnh, ăn nhiều dẫn đến hỏa táo. Người cảm thấy nặng ngực, tiêu hóa có vấn đề không nên ăn. Khi ăn long nhãn nên ngậm như kẹo rồi từ từ nuốt lấy nước của nó.
Trái câyTRÁI VẢITrái vải: mát ngũ tạng, bổ máu, an tim. Dược liệu có công năng bổ hỏa, sức bổ dưỡng cao. Mỗi ngày chỉ nên ăn ít một tránh khó tiêu, đầy bụng, táo bón. Phải nhai kỹ, nhai từ từ, rồi nuốt nước để làm mát cổ họng thì mới hiệu quả. Ăn quá nhiều bị trúng độc, nên lấy vỏ trái vải nấu nước để trung hòa. Hoặc ăn vài lát chanh tươi, uống trà chanh nóng có thể trừ được chứng đầy hơi và đau bụng do ăn nhiều vải.
Trái câyLỰUTrái lựu: có vị chua, công dụng sinh nước miếng làm hết khát. Vỏ lựu có công hiệu thu liễm nhẹ, có chất kiềm muối nhu toan, trục giun sán. Nước ép tuy công dụng trục giun sán không bằng vỏ lựu, nhưng có thể trừ dc chứng tích trệ bao tử, dự phòng ký sinh trùng đường ruột.
Trái câyXOÀIXoài: Người phong thấp, dị ứng, lở loét, ung thư không nên ăn xoài. Bao tử ruột kém, gốc phong thấp không nên ăn.
Trái câyLÊTrái Lê: người ăn uống quá nhiều đồ bổ tính ấm nóng, làm tân dịch bị nhiệt độc nung tiêu hao, cảm thấy khát, miệng lưỡi khô, nhức đầu, tròng trắng nổi gân đỏ, ăn trái lê hoặc ép nước sẽ có hiệu quả thanh giải các triệu chứng trên. Người sức khỏe kém không ăn được đồ mát, nên đem nước ép đi chưng chin rồi uống, sẽ không có phản ứng xấu.
Trái câyHỒNGKinh thị, trái hồng khô. Khi ăn cơm bị nghẹn, nấc cục. Kinh thị nấ nước giúp an vị, bình nghịch khí khá tốt. Trái hồng tươi có tính hơi hàn, làm huyết áp thấp. Người gốc hàn huyết áp không đủ, kém tiêu hóa không nên dùng. Người táo nhiệt, da bị ngứa, miệng mũi hay khô, đại tiện bón, huyết áp cao ăn trái hồng rất có lợi. Gia công thành hồng khô thì tính hàn sẽ tiêu mất, người gốc hàn có thể dùng. Trái hồng khô nấu nước trị ăn uống tích nhiệt, tổn thương bao tử, kiết tá kéo dài. Sau ăn bỗng nấc cục, mua 4 quả kinh thị bổ đôi nấu nước uống.
Trái câyDÂU TẰMBúp dâu tươi, hái trên đọt cây dâu tằm, lá dâu nón vừa nở sắp thành lá, thanh lương, tán nhiệt, giải độc, trừ mỡ khó tiêu. Ăn thịt chó thấy nặng bụng, khó tiêu, nên dùng búp dâu tươi nấu nước uống tiêu trệ, giải dầu mơ, thanh nhiệt độc. Trái dâu tằm: dưỡng huyết, bổ thận, khu phong, làm sáng mắt, trị táo bón. Vị của trái dâu tằm ngọt, có khí hàn, màu đỏ về sau thành tím, trái ngọt, hàn, ích huyết, trừ nhiệt làm mát máu, bổ máu, ích âm. Một khi âm thiếu thì khí ở khớp xương không thông, nhưng khi huyết sinh và nước miếng đầy đủ thì âm khí sẽ thịnh, huyết và khí sẽ tự thông với nhau. Nhiệt thối thì âm sinh thì gan sẽ không còn manh hỏa, tinh thần nhờ vậy sẽ yên ổn. Rượu trái dâu tằm trước mỗi bữa ăn, giúp bao tử dễ tiêu hóa, Người sức khỏe kém, thiếu máu, bị phong thấp, khớp xương đau nhức nên dùng loại rượu này để trị liệu. Người bệnh thần kinh suy nhược, ăn dâu tằm rim mật sẽ có công hiệu trị liệu.
Trái câyTẮCKim quất: hóa đàm, hạ khí. Kim quất muối và phơi khô, ăn xong nặng ngực, cổ khô, đàm vướng cổ, lấy kim quất lâu năm nấu nước uống hoặc đâm nát chế nước sôi uống làm hạ khí, tiêu trệ, chỉ thống. Cổ họng viêm, ngậm từ từ nuốt nước sẽ tiêu đàm, thuận khí, tiêu viêm.
Trái câyTHƠM, KHÓMTrái thơm: khai thông thủy đạo, cơ năng bài tiết nước bị trở ngại, trương mãn, đầy tức có hiệu quả trị liệu tốt. Người bị bế tắc vì nhiệt tính có thể dùng. Người do hàn bế hoặc thấp bế tuyệt đối không thể dùng.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc