MẠCH KINH
Mạch có mạch âm mạch dương, hễ biết được cái gì là mạch
dương thì sẽ biết được cái gì là mạch âm; biết được cái gì là mạch
âm thì sẽ biết được cái gì là mạch dương. (Biết rõ mạch âm dương
thì biết được sự biến đổi của mạch).
Mạch dương có 5 loại, tức là xuân huyền, hạ câu, trưởng hạ
hoãn, thu mao, đông thạch, vì thế 5 mùa đều có dương mạch của
5 tạng, cho nên 5 mùa phối hợp với 5 tạng trở thành 25 thứ mạch
dương. (Nói kinh dương có 5 câu, chính là lấy mạch của một phủ
mà bao hàm mạch của 5 phủ, cho nên 5 5 thành 25 dương mạch.
Từ đấy suy ra, thì trong một tạng bao hàm có mạch của 2 tạng,
cũng là 25 mạch âm).
Nói mạch âm là chỉ mạch đến không kiêm thấy vị khí, gọi là
mạch “chân tạng”, mạch chân tạng là dấu hiệu vị khí đã bị bại
hoại, dấu hiệu vị khí bại hoại đã thể hiện thì có thể quyết đoán
rằng bệnh sẽ chết. (Nói mạch âm là nói đến chân mạch của ngũ
tạng, mạch của chân tạng thể hiện thì biết tạng đó đã bại hoại,
bại hoại thì phải chết, cho nên nói mạch chân tạng hiện ra là
chết).
Nói mạch dương, tức là chỉ mạch có vị khí. (Dương mạch của
vị quản là khí của nhân nghinh, xét khí của mạch Dương minh
động hay tĩnh, to hay nhỏ, có ứng với mạch khí khẩu hay không.
Mạch Nhân nghinh ở hai bên yết hầu, mạch động thì ứng ở tay,
mạch Nhân nghinh mà động thì thường thường bên tả nhỏ, bên
hữu to. Mạch bên tả nhỏ là biểu hiện của tạng, mạch bên hữu to là
biểu hiện của phủ, bởi vì vị là ông chủ của 6 phủ 5 tạng, tuy trong
đó có 25 mạch khác nhau mà thực ra đều không ngoài sự biểu
hiện của mạch vị quản, chứng lành là có vị khí, chứng không lành
là không có vị khí).
Phân biệt được mạch dương mà biết được bộ vị của bệnh,
phân biệt được mạch âm mà biết được kỳ hạn sống chết. (Dương
bảo vệ ở ngoài, gìn giữ cho âm, nhưng ngoại tà xâm phạm vào chỉ
thấy ở dương phận thì biết được bộ vị của bệnh. Âm tàng thần mà
giữ ở trong, nếu biết rõ được sự thành hay bại ở âm phận thì biết
được kỳ hạn sống chết).
Bộ vị quan sát của ba kinh mạch dương ở huyệt Nhân nghinh,
chỗ hai bên yết hầu [68]. Bộ vị quan sát của ba kinh mạch âm ở
giữa mạch thốn khẩu sau trấy tay (ngư tế); nói chung trong trạng
thái khỏe mạnh, mạch Nhân nghinh và thốn khẩu là nhất trí. (Ở
vùng đầu là nói về mạch Nhân nghinh, ở vùng tay là nói về mạch
khí khẩu, hai mạch ấy ứng với nhau nhịp nhàng như kéo sợi dây là
mạch người bình thường, cho nên gọi là nhất trí. Mạch khí khẩu ở
sau chỗ trấy tay một thốn, mạch nhân nghinh ở hai bên yết hầu
một thốn 5 phân đều có biểu hiện khí của ngũ tạng).
Cái gọi âm dương, thì mạch đi là âm, mạch đến là dương.
Mạch tĩnh là âm, mạch động là dương, mạch trì là âm, mạch sác là
dương. (Đó là nói về mạch thể của con người có chia ra âm dương,
mạch có đi có lại, tức là trong sự đi lại có chia ra âm dương, mạch
có động có tĩnh, tức là trong lúc động lúc tĩnh có chia ra âm
dương, mạch có trì có sác, tức là trong lúc đi nhanh đi chậm có
chia ra âm dương).
Cái gọi sinh dương tử âm, ví dụ can bệnh truyền sang tâm là
“sinh dương”. (Còn dương thì sống, mất dương thì chết, cho nên
nói sinh dương tử âm. Từ can truyền sang tâm là hàm nghĩa mộc
sinh hỏa thì được sinh khí tức là sinh dương, bệnh không quá 4
ngày thì khỏi).
Từ tâm truyền sang phế là “tử âm”. (Tâm truyền sang phế là
hỏa khắc kim, cho nên nói là tử âm, bệnh không quá 3 ngày thì
chết).
Từ phế truyền sang thận là “trùng âm”. (Phế kim, thận thủy,
tuy mẹ con cùng truyền nhau mà cả kim lẫn thủy đều mắc bệnh,
thì là trùng âm mà dương đã tuyệt).
Từ thận truyền sang tỳ gọi là “tịch âm”, là bệnh chết không
chữa được. (Thổ vốn chế thủy mà trái lại thủy khinh nhờn thổ là
tịch âm. Tịch âm là âm thiên lệch).
Mạch Nhân nghinh một lần thịnh là bệnh ở Thiếu dương, hai
lần thịnh là bệnh ở Thái dương, ba lần thịnh là bệnh ở Dương
minh, bốn lần thịnh trở lên Cách dương. (Phép xem mạch dương
thì Thiếu dương là mạch Đởm, Thái dương là mạch Bàng quang,
Dương minh là mạch Vị. Sách Linh Khu nói: “Một lần thịnh mà đập
nhanh là bệnh ở Thủ thiếu dương, hai lần thịnh mà đập nhanh là
bệnh ở thủ Thái dương, ba lần thịnh mà đập nhanh là bệnh ở thủ
Dương minh. Thủ Thiếu dương là mạch Tam tiêu, thủ Thái dương là
mạch Tiểu trường, thủ Dương minh là mạch Đại trường. Một lần
thịnh là mạch Nhân nghinh to gấp đôi mạch Thốn khẩu, các lần
khác cũng như vậy, thịnh gấp 4 lần trở lên là dương thịnh đến cực
độ, cho nên đối kháng mà không ăn vào được. Thiên Chính lý luận
nói: “cách thì mửa vọt ra”).
Mạch thốn khẩu một lần thịnh là bệnh ở Quyết âm, hai lần
thịnh là bệnh ở Thiếu âm, ba lần thịnh là bệnh ở Thái âm, bốn lần
thịnh là bệnh ở Quan âm. (Phép xem mạch âm, Quyết âm là mạch
Can, Thiếu âm là mạch Thận, Thái âm là mạch Tỳ. Sách Linh khu
nói: “Mạch khí khẩu một lần thịnh mà đập nhanh là bệnh thủ
Quyết âm, hai lần thịnh mà đập nhanh là bệnh thủ Thiếu âm, ba
lần thịnh mà đập nhanh là bệnh thủ Thái âm. Thủ Quyết âm là
Tâm bào lạc, thủ Thiếu âm là mạch tâm, thủ Thái âm là mạch phế.
Phép thịnh về âm mạch cũng giống như về dương mạch, gấp 4 lần
trở lên thì âm thịnh đến cực độ, cho nên đường tiết niệu bế tắc mà
không đái được. Thiên Chính lý luận nói: “bế tắc thì không đái
được”).
Mạch Nhân nghinh và mạch khí khẩu đều thịnh gấp 4 lần trở
lên là chứng quan cách. Mạch quan cách thịnh là không thể hưởng
hết được tinh khí của trời đất thì chết. (Sách Linh khu nói: “Mạch
âm mạch dương đều thịnh không thể dinh dưỡng lẫn nhau được
cho nên gọi là quan cách. Quan cách thì không hết kỳ hạn mà
chết”).
Tại sao mạch khí khẩu lại chủ về ngũ tạng? (Khí khẩu là thốn
khẩu, cũng gọi là mạch khẩu, vì mạch thốn khẩu có thể xét được
sự thịnh suy của khí, cho nên gọi là khí khẩu, có thể xét được
mạch động tĩnh cho nên gọi là mạch khẩu).
Vị là cái bể chứa cơm nước, là nguồn suối của 6 phủ. (Trong
con người có 4 cái bể, bể chứa thủy cốc là một, chức năng của nó
là thu nhận ngũ cốc để dinh dưỡng toàn thân, vì thế là nguồn gốc
của sự vận hóa, cho nên nó là nguồn gốc của 6 phủ).
Ngũ vị vào miệng, tàng trữ ở dạ dày để nuôi khí của ngũ
tạng, Khí khẩu cũng là Thái âm. (Động mạch ở khí khẩu là chỗ đi
lại của mạch khí của thủ Thái âm, cho nên nói mạch khí khẩu
cũng là mạch thái âm).
Bởi thế, khí vị của 5 tạng 6 phủ đều xuất phát từ dạ dày, biểu
hiện ở khí khẩu, cho nên 5 khí vào mũi, tàng ở tâm phế, tâm phế
có bệnh thì mũi không thông. (Đấy là nói rõ mạch khí khẩu chủ
riêng về ngũ tạng, mạch khí khẩu là mạch thốn khẩu ở tay phải,
tức là ở huyệt Thái uyên của kinh mạch thủ Thái âm phế. Sách
Linh khu gọi rằng mạch khẩu là vì mạch khí đều hội họp ở đó, gọi
là thốn khẩu là lấy ở chỗ huyệt Thái uyên, cách trấy tay vừa vặn
một thốn. Còn như mạch thốn khẩu bên tay trái thì các thiên trong
Nội kinh đều gọi là Nhân nghinh, mạch động hay tĩnh, khí thịnh
hay suy, người sống hay chết, tuy hiện ra ở thốn khẩu, nhưng thực
ra là gốc ở tỳ vị; vị là Túc Dương minh, tỳ là Túc Thái âm. Túc
Dương minh là đầu của 6 phủ, Túc Thái âm là gốc của 5 tạng, vị
chủ việc thu nạp, thủy cốc tụ hội ở đấy, vì vị là nguồn lớn của 6
phủ. Ngũ vị vào miệng, chứa ở vị, nhờ có tỳ để vận hóa, cho nên
khí của 5 tạng đều phải nhờ đến vị để tu dưỡng. Như vậy, tỳ là túc
Thái âm, phế là thủ Thái âm, khí của nó vốn lưu thông với nhau,
cơm nước vào vị, khí truyền vào phế mà phế đi qua khí khẩu, cho
nên nó biểu hiện ở khí khẩu. Thiên Ngọc cơ chân tạng luận nói:
“Năm tạng đều bẩm thụ khí ở vị”. Vị là gốc của 5 tạng, tạng khí
không tự đưa đến được kinh thủ Thái âm mà phải do vị khí đưa đi
mới đến được, vì thế nói vị là phải nói đến tỳ, 5 vị vào miệng rồi
vào 6 phủ, 5 khí vào mũi rồi vào 5 tạng, 5 tạng duy có tâm phế là
ở ngực, mũi chịu lấy 5 khí, cho nên hễ tâm phế có bệnh thì mũi
không thông. Nhưng nếu tỳ có bệnh thì làm sao phân biệt được
ngũ vị của nó?).
Tiến hành chẩn mạch, tốt nhất là lúc sáng sớm. Bởi vì lúc ấy
chưa có lao động gì, âm khí chưa bị quấy động, dương khí chưa bị
hao tán, ăn uống cũng chưa từng có gì, khí của kinh mạch chưa
lấn thịnh, khí của lạc mạch cũng điều hòa, khí huyết cũng chưa bị
nhiễu loạn quá, hoàn cảnh ấy rất dễ chẩn mạch cho người bệnh.
(Khí của dinh vệ, ban ngày đi giữa dương phận, ban đêm đi ở âm
phận, đến sáng sớm đều tụ hội nơi thốn khẩu, cho nên chẩn mạch
thường chẩn vào lúc ấy, lúc ấy âm khí bình hòa mà chưa giao
động, dương khí sắp thịnh mà chưa hao tán, chưa ăn uống gì dễ
biết hư thực, kinh mạch chưa thịnh, lạc mạch điều hòa, khí huyết
chưa làm việc mà rối loạn, mới có thể xem được mạch có bệnh).
Mạch là phủ của huyết. (Phủ là nơi chứa chất, ý nói nhiều hay
ít đều chứa ở kinh mạch, cho nên nói mạch thực thì huyết thực,
mạch hư thì huyết hư).
Mạch Trường thời khí bình thường, mạch Đoản thời khí có
bệnh, mạch Sác thời phiền loạn đến tâm, mạch Đại thời tà khí
thịnh, bệnh tiến triển. (Mạch trường là khí hòa, cho nên bình
thường, mạch đoản là khí bất túc, cho nên có bệnh, mạch sác là
nhiệt, cho nên phiền loạn đến tâm, mạch đại là tà khí thịnh, cho
nên bệnh tiến triển, mạch sác qua lại thoăn thoắt, mạch đại đi lại
đầy tràn).
Trên thịnh thì khí cao, dưới thịnh thì khí trướng, mạch đại thì
khí suy, mạch tế thì khí kém, mạch sắc thì tim đau. (Trên là thốn
khẩu, dưới là xích trung, thịnh là đầy tràn; mạch đại là mạch động
mà đến nửa chừng thì đứng, không trở lại được; mạch tế là mạch
động mà mềm mại; mạch sắc là mạch đi lại có lúc không lưu lợi
mà sít).
Mạch đi cuồn cuộn như suối tuôn ra là bệnh tăng mà sắc bại;
mạch đi phần phật như dây đàn đứt thì chết. (Cuồn cuộn là nói
mạch khí đục mà khí loạn; mạch Cách đến là mạch đến huyền mà
đại, thực mà trường. Như suối tuôn là nói mạch đổ cuồn cuộn ra
mà không trở lại; phần phật là nói có mà tựa như không; như dây
đàn đứt là nói mạch bỗng nhiên đứt như dây đàn đứt. Những mạch
như thế đều là mạch chết).
Con người khi thở ra mạch động, hít vào mạch lại động. Mỗi
hơi thở mạch động 5 lần là tốt, hơi thở đó là hơi thở của người
bình thường không có bệnh. (Kinh mạch đi mỗi vòng khắp châu
thân dài 16 trượng 2 thước, thở ra hít vào mạch đều động 2 lần,
lúc nín thở thì mạch động có 1 lần, thở ra hít vào và ngừng thở
mạch động 5 lần. Tính ra cứ 270 lần ngừng thở thì khí đi hết một
vòng châu thân, và đi hết 50 vòng thì phải 13.500 lần ngừng lại,
và khí đi hết 810 trượng, như thế là ứng với thường độ của thiên
nhiên. Mạch khí không thái quá không bất cập, khí tượng bình hòa
là mạch của người bình thường, cho nên đem hơi thở của người
bình thường để đo đạc hơi thở của người có bệnh. Thầy thuốc là
người bình thường không có bệnh, đem hơi thở của thầy thuốc để
đo đạc hơi thở của bệnh nhân. Như thế mỗi hơi thở mạch đến 5
lần là mạch người không có bệnh. Khi thở ra là “Hô”, hít vào là
“Hấp”, hô hấp và lúc ngừng lại là một “tức”, nói là mỗi lần thầy
thuốc thở ra thì mạch của bệnh nhân đập 2 lần, mỗi lần hít vào thì
mạch của bệnh nhân đập 2 lần, mỗi khi thở ra, hít vào và ngừng
lại, mạch đập 5 lần cũng như năm có tháng nhuận. Nhuận là lấy
mạch thở của người khỏe tức là mỗi hơi thở mạch động 5 lần, như
thế gọi là mạch của người bình thường không có bệnh. Bởi vì một
hơi thở của thầy thuốc thì bệnh nhân cũng thở ra hít vào cho nên
biết rằng mạch động 5 lần là mạch không có bệnh. Nên lấy mạch
người không có bệnh để đo với mạch của người có bệnh, vì thầy
thuốc tự mình không có bệnh cho nên muốn so sánh với người có
bệnh thì phải điều hòa hơi thở của mình để xem xét, đó là phương
pháp để chẩn mạch. Mạch của con người cộng có 16 trượng 2
thước, mỗi lần thở ra mạch đi 3 tấc, mỗi lần hít vào mạch đi 3 tấc,
trong 135 hơi thở mạch đi 8 trượng 1 thước, trong 270 hơi thở
mạch đi 16 trượng 2 thước là một chu kỳ, một ngày một đêm có
13.500 hơi thở, mạch đi 810 trượng là 50 chu kỳ, tức là cộng
thành 16 trượng 2 thước mạch).
Con người mà mỗi lần thở ra mạch chỉ động 1 lần, hít vào
mạch chỉ động 1 lần là thiếu khí. (Mạch thở ra hít vào mà đều
động 1 lần là giảm đi một nửa đối với mạch người bình thường, thì
trong 270 lần ngừng thở, khí đi chỉ có 8 trượng 1 thước, cứ 13.500
lần ngừng thở thì khí chỉ đi có 450 trượng, như thế thì đúng là
thiếu khí. Do đó có thể biết được rằng mạch một hơi thở 2 lần
động là thiếu khí, đó là nói về mạch bất cập so với mạch bình
thường).
Người thở ra mạch động 3 lần, hít vào mạch động 3 lần là
mạch sác, bộ xích nhiệt là bệnh ôn, bộ xích không nhiệt, mạch
hoạt là bệnh phong, mạch sắc là bệnh tê. (Thở ra hít vào mạch
động đều 3 lần, quá với người bình thường, tính ra trong 270 lần
ngừng thở khí đi 27 trượng 3 thước, do đó biết rõ là dấu hiệu bệnh
sống, bộ vị mạch xích ở phần âm, thốn ở phần dương, nhưng âm
dương đều nhiệt là chỉ riêng về âm dương táo thịnh là phong
trúng ở phần dương. Thiên Mạch yếu tinh vi luận nói: “Trúng phải
gió độc thì dương khí bị tà”, mạch hoạt là dương thịnh cho nên
bệnh thuộc phong, mạch sắc là huyết kém cho nên sinh tê dại.
Đấy là nói về mạch nhất tức lục chí sẽ sinh ra mọi bệnh và nói về
mạch thái quá so với mạch người thường).
Khí của người bình thường thì bẩm thụ ở vị, vị khí là nói về khí
bình thường của người mạnh khỏe. (Khí bình thường của người
mạnh khỏe là từ vị chuyển tới, cho nên nói ngũ cốc vào vị thì
đường mạch sẽ lưu hành).
Người không vị khí là nghịch, nghịch thì chết. (Mạch lấy vị khí
làm gốc, không vị khí là nghịch, nghịch thì chết).
Mùa xuân, mạch vị khí hơi huyền là bình thường. (Nói hơi
giống mạch huyền, không phải mạch vi mà huyền).
Mùa hè mạch vị khí hơi câu là bình thường, tiết trưởng hạ
mạch vị khí hơi nhuyễn nhược là bình thường, mùa thu mạch vị
khí hơi mao là bình thường, mùa đông mạch vị khí hơi thạch là
bình thường. (Theo y văn trên mà nói, ngũ tạng đều lấy vị khí làm
gốc).
Mạch thuận với âm dương thì bệnh dễ khỏi, nghịch với âm
dương thì bệnh khó khỏi. (Mạch và bệnh tương ứng với nhau là
thuận, trái nhau là nghịch. Đó là nói mạch và bệnh phải thuận với
nhau).
Mạch thuận với bốn mùa thì bệnh không biến chứng, mạch
trái với bốn mùa và không tương ứng với tạng thì khó chữa. (Mùa
xuân mà thầy mạch mùa thu, mùa hè mà thấy mạch mùa đông,
mùa thu mà thấy mạch mùa hè, mùa đông mà thấy mạch tứ quý
đều là mạch trái với bốn mùa, khí không tương ứng với tạng. Gián
tạng là như bệnh can đến lấn thổ, đáng lẽ truyền sang tỳ, mà lại
truyền sang tâm là cách tạng nó thắng mà truyền sang tạng nó
sinh. Sách Nạn kinh nói: “Mạch gián tạng thì sống” là ý nghĩa như
thế. Và mạch không gián tạng thì đều gọi là mạch khó chữa. Đó là
nói về mạch phải tùy thời mà thuận theo).
Con người lấy thủy cốc làm gốc, cho nên người hết thủy cốc
thì chết, mạch không có vị khí cũng chết. Mạch không có vị khí là
chỉ thấy mạch chân tạng. Mạch không có vị khí là mạch can không
huyền, mạch thận không thạch. (Không huyền, không thạch là nói
không tương tự như mạch huyền, mạch thạch).
Đàn bà mạch Thủ thiếu âm động mạnh là có mang. (Mạch
Thủ thiếu âm ở chỗ lõm xương sau bàn tay, ngang với ngón tay
động mà ứng với tay, Kỳ Bá nói: “Bị bệnh ở ngoài kinh này mà
tạng không bị bệnh, cho nên chỉ lấy kinh này ở đầu xương cao (lồi
xương quay) sau bàn tay, tức là nghĩa đó. Động là mạch động,
mạch động to như hạt đậu mà động đậy. Mạch âm dương đều suy
gọi là mạch động).
Tại sao thấy mạch chân tạng thì chết? Kỳ Bá nói: “Ngũ tạng
đều bẩm thụ khí ở vị, vị là gốc của ngũ tạng”. (Vị là cái bể của
thủy cốc, cho nên ngũ tạng đều bẩm thụ ở thủy cốc).
Tạng khí không thể tự mình đến kinh Thủ thái âm, phải do vị
khí mới đến được kinh Thủ thái âm. (Con người bẩm thụ khí ở vị,
tạng khí là khí của người khỏe mạnh bình thường, cho nên tạng
khí có vị khí mới đưa đến kinh Thủ thái âm).
Cho nên ngũ tạng đều tự hoạt động có chừng độ mà đến kinh
Thủ thái âm. (Tự hoạt động theo trạng thái của nó mà đến kinh
Thủ thái âm).
Cho nên tà khí thịnh thì tinh khí suy mà bệnh nặng, thì vị khí
không thể cùng đến với kinh Thủ thái âm và chỉ thấy khí của chân
tạng, cho nên nói là chết. (Đó là nói về mạch không có vị khí).
Hình và khí tương ứng với nhau thì có thể chữa được. (Khí
thịnh hình thịnh, khí hư hình hư là tương ứng).
Sắc trạch tươi tốt mà mỡ màng thì dễ chữa. (Khí sắc hồng
hào tươi nhuận, huyết khí dinh dưỡng lẫn nhau cho nên dễ khỏi).
Mạch tương ứng với 4 mùa thì dễ chữa. (Mạch mùa xuân
huyền, mùa hè câu, mùa thu phù, mùa đông trầm là thuận. Mạch
4 mùa theo nhau là thuận).
Mạch nhược mà hoạt là có vị khí thì dễ chữa, xét mạch phải
xét theo thời tiết. (Xét mạch có phù hợp với bốn mùa không thì
chữa đâu khỏi đấy, phải xét xem khí huyết 4 mùa có mắc bệnh
chỗ nào mà chữa bệnh).
Hình và khí trái nhau thì khó chữa. (Hình thịnh khí hư, hình hư
khí thịnh là trái nhau).
Sắc tối mà không bóng thì khó chữa, mạch thực mà cứng thì
bệnh tăng, mạch nghịch với 4 mùa thì không chữa được. (Mạch
thực mà cứng là tà khí thịnh, cho nên càng nặng, vì khí nghịch lên
không thể chữa được).
Tam bộ cửu hầu là: có hạ bộ, trung bộ và thượng bộ, mỗi bộ
như vậy có ba hầu: thiên, địa và nhân; Thượng bộ thiên, là động
mạch ở hai bên trán. (Động mạch ở hai bên trán ứng dưới tay là
chỗ mạch khí của kinh Túc thái dương đi qua).
Thượng bộ địa, là động mạch ở hai bên má. (Động mạch ứng
dưới tay ở hai bên má dưới lỗ mũi, gần huyệt cự liêu là chỗ mạch
khí của kinh Túc dương minh đi qua).
Thượng bộ nhân, là động mạch ở trước tai. (Động mạch ứng
dưới tay trong chỗ lõm của xương trước tai là chỗ mạch khí của
kinh Thủ thiếu dương đi qua).
Trung bộ thiên là Thủ thái âm. (Tức là phế mạch ở thốn khẩu
sau bàn tay, động mạch ứng dưới tay là huyệt Kinh cừ).
Trung bộ địa là Thủ dương minh. (Tức là mạch đại trường,
mạch ứng dưới ngón tay ở khoảng xương kẽ ngón tay cái và trỏ,
chỗ hai xương giáp nhau).
Trung bộ nhân là Thủ thiếu âm. (Tức là tâm mạch, ở chỗ lồi
xương trụ, sau bàn tay vùng huyệt Thần môn, mạch ứng dưới
ngón tay).
Hạ bộ thiên là Túc quyết âm. (Tức là can mạch ở ngoài chòm
lông mu, trong chỗ lõm dưới huyệt Dương thỉ một thốn rưỡi, ở về
vùng huyệt Ngũ lý, nằm xuống mới lấy được huyệt. Đàn bà thì lấy
mạch ở huyệt Thái xung, chỗ lõm hai thốn sau đốt ngón chân cái).
Hạ bộ địa là kinh Túc thiếu âm. (Tức là mạch thận, ở trong
chỗ lõm sau gót, bên trên mắt cá sau, vùng huyệt Thái khê, động
mạch ứng dưới ngón tay).
Hạ bộ nhân là Túc thái âm. (Tức là mạch tỳ ở trên bụng chân
(bắp chuối) qua khoảng gần thẳng xuống dưới huyệt Ngũ lý, ở chỗ
huyệt Cơ môn, ấn tay lấy huyệt thì thấy mạch ứng dưới ngón tay,
tìm vị khí phải lấy huyệt trên mu bàn chân, huyệt ở trong chỗ
Xung dương).
Cho nên hạ bộ thiên là gốc của can. (Mạch Túc quyết âm đi ở
trong đấy).
Hạ bộ địa là gốc ở thận. (Mạch Thủ thiếu âm đi ở chỗ này).
Người ta thăm dò khí ở tỳ vị. (Mạch Túc thái âm đi ở trong
đấy).
Trung bộ là như thế nào? Cũng có thiên, cũng có địa, cũng có
nhân. Thiên bộ để xét về phế, (mạch Thủ thái âm ở chỗ này). Địa
bộ chủ khí ở hung trung, (mạch thủ dương minh ở chỗ này). Nội
kinh nói: “trường vị cùng một gốc, cho nên lấy gốc ở hung trung”.
Nhân bộ chủ tâm. (mạch Thủ thiếu dương ở trong này).
Thượng bộ chủ về gì? Cũng có thiên bộ, địa bộ, nhân bộ.
Thiên bộ chủ khí ở góc đầu. (Bộ vị ở góc đầu cho nên chủ khí ở
góc đầu). Địa bộ xét khí ở góc răng miệng. (Bộ vị ở gần răng
miệng cho nên xét về răng miệng). Nhân bộ xét khí ở tai mắt. (Vì
bộ vị của nó ở động mạch ngay trước tai, ngoài đuôi mắt, cho nên
xét khí ở tai mắt). Ba bộ đều có thiên bộ, đều có địa bộ, đều có
nhân bộ. Ba bộ thành thiên bộ. (Nói rõ ba bộ hợp thành thiên bộ,
hợp thành ngũ tạng). Ba bộ thành địa bộ, ba bộ thành nhân bộ, ba
lần ba thành chín tức là chín khí, ở mặt đất chia làm chín khu vực,
ở nhân thể chia làm chín tạng. (Vì thế cho nên ứng với chí số của
thiên địa). Đấy là hình tạng 4, thần tạng 5, hợp thành 9 tạng. (Nói
thần tạng là can tàng hồn, tâm tàng thần, tỳ tàng ý, phế tàng
phách, thận tàng chí vì nó đều có thần khí ở đó. Hình tạng là nhờ
đồ vật để nghiêng rỗng, mà úp xuống. Hợp tàng ở vật cho nên gọi
là hình tạng. Một là góc đầu, hai là tai mắt, ba là răng miệng, bốn
là giữa ngực).
Ngũ tạng đã bại hoại thì sắc phải yểu, sắc yểu thì chết. (Yểu
là sắc chết, là dấu hiệu khác thường, sắc như ngọn cờ của thần,
tạng là chỗ trú của thần, cho nên thần mất thì tạng bại hoại, tạng
bại hoại thì sắc thấy dị thường, chứng hậu thì chết vậy).
Hình thịnh mà mạch tế, khí ít không đủ để thở thì nguy. (Hình
và khí phù hợp với nhau thì có thể chữa được, nay mạch khí không
đủ mà hình thịnh có thừa không phù hợp với chứng, cho nên
nguy).
Hình gầy mà mạch đại, trong ngực nhiều khí thì chết. (Đó là
hình khí bất túc mà mạch khí hữu dư. Hình gầy mạch đại, trong
ngực nhiều khí, hình tạng đã tổn thương như thế là hình và khí
không phù hợp với nhau).
Hình và khí phù hợp với nhau thì sống, chênh lệch không điều
hòa thì sinh bệnh. Tám bộ cửu hầu trái nhau thì chết. (Trái nhau là
khí hậu không cùng loại với nhau, hậu cùng trái nhau phép chẩn
có 7. Hình trạng thất chẩn như đoạn y văn dưới đây: Mạch trên
dưới tả hữu như gõ nhịp thì bệnh nặng, một hơi thở 10 chí [69] trở
lên không đếm được thì chết). Tuy có một mình trung bộ điều hòa
mà trái với các tạng thì chết, trung bộ mà giảm sút thì chết. (Tả
hữu của trung bộ gồm có 6 chỗ để nhận xét, nhưng thượng bộ hạ
bộ không tương ứng, chỉ riêng ở trung bộ điều hòa thì không phải
suy giảm ở trên dưới là khí suy cho nên chết).
Lòng mắt lõm xuống thì chết. (Kinh mạch Thái dương bắt đầu
ở đầu mắt, lòng mắt lõm xuống là kinh Thái dương tuyệt cho nên
chết. Nói đến kinh Thái dương vì kinh Thái dương chủ mọi khí
dương cho nên chỉ nói riêng kinh ấy).
Bắp thịt teo róc hết, chín hầu mạch tuy điều hòa cũng chết.
(Cũng là nói hình khí không cân đối nhau. Nội kinh nói: mạch khí
hữu dư, hình khí bất túc thì sống, bất túc ở đây là chưa thoát.
Thoát là những bắp thịt lớn đều teo hết. Tỳ chủ cơ nhục, cơ nhục
thoát là tỳ đã tuyệt, phải chết, cho nên tuy chín hầu mạch điều
hòa cũng chết).
Xét chín hầu mạch mà chỉ thấy riêng nhỏ hoặc to, hoặc
nhanh hoặc chậm, hoặc nhiệt hoặc hàn, hoặc hạ hãm thì đều là
bệnh cả. (Dấu hiệu trái nhau khi chẩn đoán có 7 loại như thế,
nhưng 7 loại mạch đó là nói mạch đi riêng biệt không ăn nhịp với
nhau thì bệnh. Đây là nói chín hầu mạch có cách xem 7 loại mạch
ấy).
Bắp thịt teo róc hết, không đi đứng được thì chết. (Cốc khí
suy ở ngoài thì bắp thịt teo róc hết, khí thiên chân kiệt ở trong cho
nên không đi đứng được, thiên chân và cốc khí đều suy thì sẽ
chết).
Chín hầu mạch đều trầm tế muốn tuyệt là mạch thuần âm,
chủ mùa đông, cho nên đến nửa đêm thì chết, mạch nhanh gấp
vội vàng là mạch thuần dương, chủ mùa hè, cho nên đến giữa trưa
thì chết. (Vị trí hay đổi dời, sự vật tột cùng thì phản lại, đó là lẽ âm
dương, dương cực thì âm bị hại, cho nên nói mạch âm dương cùng
tột thì chết vào nửa đêm hoặc giữa trưa).
Hàn cực thì bệnh đến sáng sớm sẽ chết. (Cũng như sự vật
cùng tột thì biến, sáng sớm thì can mộc vượng, mộc khí là phong
cho nên khí mộc vượng thì phát sinh ra bệnh hàn nhiệt).
Nhiệt trúng và bệnh nhiệt đến giữa trưa thì sẽ chết (là vì
dương cực). Gặp bệnh phong thì đến chiều sẽ chết (là vì giờ mão
giờ thìn xung khắc nhau).
Bệnh thuộc thủy thì đến nửa đêm chết (là vì thủy vượng).
Mạch đi chợt thưa, chợt nhanh, chợt chậm, chợt gấp thì chết
vào ngày tứ quý. (Thổ khí vượng vào thìn, tuất, sửu, mùi, tỳ khí
tuyệt ở trong cho nên đến ngày tứ quý thì chết. Đó là nói rõ kỳ
hạn của bệnh.
Trẻ con đang bú, bị sốt, mạch huyền là như thế nào? (Huyền
ví như vật treo mà động). Chân tay ấm thì sống, lạnh thì chết. Trẻ
con đang bú bị trúng phong nhiệt thở khò khè, mà so vai, mạch
như thế nào? Thở khò khè so vai mà mạch thực đại, mạch hoãn thì
sống, mạch cấp thì chết. (Đó là nói về trẻ con đang còn bú, mạch
và bệnh trái nhau lại có thể xét các chứng khác; bệnh chứng đều
nặng lại có thể căn cứ vào mạch thể để quyết đoán được sự sống
chết. Trẻ em đang còn bú mà mắc bệnh nhiệt là dương chứng,
mạch huyền tiểu là dương chứng thấy âm mạch, nhưng mà chân
tay ôn hòa thì còn chính khí. Mạch tuy huyền tiểu nhưng chưa
phải mạch đại, cho nên có thể sống được. Nếu không thì chân tay
lạnh mà chết. Lại như trẻ em đang còn bú mà trúng phong phát
sốt, thở khò khè, so vai là dương chứng, là mạch phải thực đại,
nhưng trong thực đại có hoãn thì tà khí lui dần, có thể sống được.
Nếu thực đại mà cấp thì tà khí tăng lên, bệnh sẽ chết).
Tại sao kiết lỵ đi ra máu mình nóng thì chết, lạnh thì sống?
(Mình nóng là huyết bại cho nên chết, mình lạnh là vinh khí còn
cho nên sống).
Tại sao kiết lỵ đi ra mũi mạch trầm thì sống, mạch phù thì
chết? (Âm bệnh mà thấy dương mạch, mạch trái với chứng cho
nên chết).
Tại sao kiết lỵ đi ngoài những máu lẫn mũi mà mạch huyền
tuyệt thì chết, mạch hoạt đại thì sống, và tại sao kiết lỵ mạch
không huyền tuyệt mà mạch hoạt đại thì sống, huyền sắc thì chết.
(Can tuyệt gặp ngày canh tân thì chết, tâm tuyệt gặp ngày nhâm
quý thì chết, phế tuyệt gặp ngày bính đinh thì chết, thận tuyệt
gặp ngày mậu kỷ thì chết, tỳ tuyệt gặp ngày giáp ất thì chết, là
lấy tạng mà có thể định được kỳ hạn, đó là nói về loại bệnh lỵ có
khi đi ngoài ra máu, có khi đi ngoài ra mũi, có khi đi ra cả máu lấn
mũi thì tùy chứng tùy mạch mà có thể quyết đoán được sự sống
chết).
Tại sao bệnh điên mạch hư có thể chữa được mà mạch thực
thì chết. (Nói về mạch của bệnh điên thì hễ thấy dương mạch, hư
mạch thì sống, là vì bệnh điên thuộc dương chứng, cho nên mạch
đại mạch hoạt là dương chứng thấy dương mạch, cho nên bệnh
lâu ngày sẽ tự khỏi; nếu mạch tiểu mạch cứng mà cấp là âm mạch
cho nên chết, không chữa được, nhưng mạch bệnh điên cần phải
hư, mạch đi đại hoặc hoạt mà phải kèm có hư mới chữa được, nếu
mạch kèm có thực là tà khí hữu dư, sẽ là dấu hiệu chết).
Bệnh Tiêu đản hư thực như thế nào? Mạch thực đại bệnh lâu
ngày có thể chữa được, mạch huyền tiểu, cứng, đau lâu ngày thì
không thể chữa được. (Bệnh lâu ngày khí huyết suy, mạch không
nên thực đại cho nên nói không có thể chữa được).
Bệnh Hoàng đản, đột nhiên đau, bệnh điên cuồng, quyết
nghịch là do khí nghịch lâu ngày mà sinh ra, vì ngũ tạng không
bình hòa, lục phủ bế tắc mà gây nên đầu nhức ù tai, chín khiếu
không lợi là do trường vị mà sinh ra. (Đó là nói bệnh do nguyên
nhân trong).
Lấy gì để biết được có thai mà sắp sinh? Kỳ Bá nói: “Trong
người có bệnh mà không có mạch ngoại tà”. (Nói về có thai mà
sắp sinh, tuy kinh bế mà mạch không có bệnh, người có bệnh tức
là kinh bế, không có mạch ngoại tà là mạch xích điều hòa. Phàm
phụ nữ có thai được ba tháng thì tinh khí âm dương chưa biến
hóa, ba tháng trở lên thì biến hóa, khí xông bốc lên vị, sinh ra
chứng nôn nghén tạm hết mà mạch rất trơn và rất nhanh hoạt tật
bởi vì đang lúc bào thai thành hình chất nam nữ mà mạch chưa
định rõ. Năm sáu tháng trở lên thì hình chất trai gái được phân
biệt rõ rệt. Tám chín tháng thì mạch bình hòa như không có thai,
nếu không phải là thầy thuốc tinh thông mạch lý thì dù bệnh nhân
có kể bệnh rõ ràng, cũng khó mà chẩn đoán biết được bệnh tình.
Sách Mạch quyết nói: “Mạch hoạt mạnh tật không tán là đã có
thai 3 tháng, chỉ mạch tật mà tán là có thai 5 tháng. Đến 6 tháng
trở đi thì không có mạch tật mạch cấp nữa, nhưng cũng có khi
trước hay sau hồng sác không thay đổi, mạch khí của nó thịnh quá
cho nên thế, không nên câu nệ phiến diện”).
Tam dương là kinh, nhị dương là duy, nhất dương là du bộ. Đó
là biết sự chung thủy của ngũ tạng. Tam âm là biểu, nhị âm là lý,
nhất âm đến tột bực thì đến ngày sóc (ngày đầu tháng) đều hợp
lại để cho đúng lý của nó. (Đó là nói về lục kinh là biểu lý trong
nhân thể, lấy kinh mạch Thái âm Thái dương làm trọng. Tam
dương là: Kinh mạch Túc thái dương bàng quang. Khởi đầu từ đầu
mắt, lên đầu chia làm 4 đường, xuống gáy cùng lạc mạch chính
của nó lên xuống thành 6 đường, xuống đến lưng làm thành kinh
mạch lớn trong người. Nhị dương là kinh mạch Túc Dương minh vị,
khởi đầu từ mũi xuống họng, chia làm 4 đường, lên xuống, qua
bụng, ràng buộc thân thể. Nhất dương là kinh mạch Túc Thiếu
dương đởm, khởi đầu từ đuôi mắt, lên góc đầu chia làm bốn
đường, xuống hõm vai và lạc mạch chính của nó rẽ làm 6 đường,
lên xuống đi qua các bộ phận trong nhân thể, gọi là kinh, là duy,
là du bộ, như thế là có thể biết được chung thủy của ngũ tạng,
nhờ ba kinh ấy để làm biểu. Cho nên tam dương là biểu thì nhị âm
là lý. Nhị âm là kinh Túc Thiếu âm thận; Nhị dương là biểu thì tam
âm là lý, tam âm là kinh Túc Thái âm tỳ; Nhất dương là biểu thì
nhất âm là lý, nhất âm là kinh Túc Quyết âm can. Thái âm là chính
âm rồi đến Thiếu âm, lại đến Quyết âm. Thái dương là chính
dương rồi đến Thiếu dương, lại đến Dương minh, bởi vì khi ứng
dụng có nhiều ít khác nhau, cho nên đều chia làm ba. Nhưng
nghĩa của Thiếu Thái thì dễ biết mà nghĩa của chữ Dương minh,
Quyết âm thì khó giải thích. 12 kinh mạch chân (túc) hợp với 12
tháng, cho nên cung Dần sinh ở tháng giêng là dương, chủ về kinh
mạch Thiếu dương ở chân trái. Tháng sáu Kiến Mùi thì thuộc kinh
mạch Thiếu dương ở chân phải. Ngón chân thứ tư của hai chân
đều là nơi mạch khí đi qua. Tháng hai Kiến Mão, chủ kinh mạch
Thái dương ở chân trái, tháng năm Kiến Ngọ chủ kinh mạch Thái
dương ở chân phải, từ mé ngoài ngón chân út trở lên đều là nơi
mạch khí đi qua. Tháng 3 Kiến Thìn, chủ kinh mạch Dương minh ở
chân trái, tháng 4 Kiến Tỵ, chủ kinh mạch Dương minh ở chân
phải, từ ngón út hai chân trở lên đều là nơi mạch khí đi qua.
Những tháng Giêng, tháng 2, tháng 5, tháng 6 là Thiếu dương,
Thái dương mà tháng 3, tháng 4 là tháng Thìn, Tỵ ở giữa thì hai
chữ dương hợp với chữ minh đằng trước, cho nên gọi là Dương
minh. Tháng 7 Kiến Thân, chủ âm sinh, chủ kinh mạch Thiếu âm ở
chân phải, mà tháng 12 Kiến Sửu chủ kinh mạch Thiếu âm ở chân
trái, từ hai lòng bàn chân trở lên đều là nơi mạch khí đi qua.
Tháng 8 Kiến Dậu, chủ kinh mạch Thái âm ở chân phải, mà tháng
11 Kiến Tý, chủ kinh mạch Thái âm ở chân trái, từ mé trong hai
ngón chân cái trở lên đều là nơi mạch khí đi qua; tháng 9 Kiến
Tuất, chủ kinh mạch Quyết âm ở chân phải, mà tháng 10 Kiến Hợi,
chủ kinh mạch Quyết âm ở chân trái, từ mé ngoài hai ngón chân
cái trở lên đều là nơi mạch khí đi qua. Những tháng 7, tháng 8,
tháng 11, tháng 12 là tháng Thiếu âm, Thái âm, mà tháng 9,
tháng 10 là tháng Tuất, tháng Hợi, thì chân khí ở hai chân đã hết
cho nên gọi là Quyết âm. Quyết có nghĩa là hết, mà ứng với nó là
Tuất, Hợi, thì nhất âm hầu như muốn tuyệt. Đã biết nhất âm gần
đứt mà có lẽ nào lại phục hồi được, đó là cái lẽ huyền diệu của hối
sóc tương sinh có đủ ở bên trong, vì âm hết là hối, âm sinh là sóc.
Khí hết là hối, khí sinh là sóc, khí đã hiện ở hối lại hiện ở sóc,
quyết âm tuyệt mà lại hợp là lấy cái lẽ huyền diệu của hối sóc
tương sinh để chứng minh cho cái lẽ quyết âm).
Tam dương là phụ, nhị dương là vệ, nhất dương là kỷ. Tam âm
là mẫu, nhị âm là thư, nhất âm là độc sứ. (Tam dương là Thái
dương, tôn quý như cha là kinh biểu che chở cho mọi loài. Nhị
dương là dương minh, là mối ràng buộc của biểu, bảo vệ mọi bộ
phận, cho nên gọi là vệ. Nhất dương là Thiếu dương, là du bộ của
biểu, rải rác khắp mọi kinh cho nên gọi là giường mối. Tam âm là
Thái âm, tôn quý như mẹ là kinh thuộc lý, nuôi dưỡng mọi kinh.
Nhị âm là Thiếu âm, là mối ràng buộc của lý, sự sống bắt đầu từ
đó, cho nên là giống cái. Nhất âm là Quyết âm, là du bộ của lý, là
chức tướng quân, chuyên lo trù tính mưu lự, cho nên gọi là độc
sứ).

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc