Lý Đông Diên trong Tỳ Vị, chuyên dùng thuốc táoThổ để trừ thấp. Nhưng Trọng Cảnh trị Thái Âm chẳng chuyên dùng thuốc táo tại sao?

Đông Diên chỉ biết thấp đã thành nhưng không biết thấp do đâu sanh, thì cho rằng Thổ không trị
được Thủy. Như thế há biết được thấp là khí căn bổn của Thổ. Trước cần phải giải cho được nghĩa
chữ Thổ rồi mới giải được chữ THẤP. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, mỗi hành ở một phương. Còn Thổ thuộc
trung ương. Trung nghĩa là bốn hướng giao nhau, Ương nghĩa là âm dương giao hội. Kinh thi có nói:
“Dạ Vị Ương” là nói trời chưa sáng, là âm chưa hội với dương. Con chim Uyên, chim Ương không
ngủ một mình. Viết trên đầu chữ Điểu có chữ Ương là lấy nghĩa âm dương giao hội. Bởi vì hai chữ âm
dương đánh láy cho thành một tức là chữ Ương. Thổ ở trung ương, tức là âm dương giao nhau pha trộn
mà hóa thành. Bởi vì Thủy giao với Hỏa gặp Mộc thì mục là thành Thổ. Gặp Kim thì hóa mà qui về
Thổ, nên số trong Hà Đồ 1 Thủy, 2 Hỏa, 3 Mộc, 4 Kim, Thổ ở sau chót năm hành, riêng khí vượng ở
tứ quý, thế là Thủy Hỏa Mộc Kim giao hợp mà thành Thổ, nên Thổ đều vượng ở tứ quý. Vả chăng ở
năm hành thì gọi là Thổ; đó là nhắm vào hình mà luận. Ở sáu khí gọi là thấp, là nhắm vào khí mà luận.
Khí sở dĩ thấp cũng chỉ là Thủy Hỏa Mộc Kim giao cấu kết thành, chưa có chất mục rữa. Kim hàm
tánh Thủy nhuận nên đều có thể sanh Thổ, sanh thấp. Cứu cánh khí Kim Mộc giao nhau thì ít, nhưng khí
Thủy Hỏa giao nhau thì nhiều, vả chăng lửa không nung nước thì nước là hàn thủy không phải thấp.
Nước không thấm vào lửa thì lửa là liệt hỏa cũng không phải thấp. Ví như trong nồi có gạo, không lửa
để đun thì không thấp nhuận, không nước để thấm cũng không thấp nhuận. Phải nước lửa giao nhau rồi
mới thành thấp. Lúc Trường Hạ, khí thấp hoạt động đúng lúc âm dương giao cấu, là hậu Thủy Hỏa
nung nhau, nên lúc tháng hạ, tường vách đều ẩm, và bệnh thấp của con người phần nhiều cảm nhiễm
lúc đó. Tạng Tỳ của con người vốn từ khí ẩm thấp của trời, là sự giao hội giữa Tâm Hỏa và Thận
Thủy mà thành. Có thể hóa vật vận chuyển ra bốn tạng đều cộng dụng ở ẩm thấp. Vị dùng khí Táo để
thâu nạp thức ăn. Toàn nhờ khí thấp của tạng Tỳ để thấm nhuần rồi mới có thể hóa. Tạng Tỳ là gốc
màng mỡ, thức ăn vào bụng khi đã hóa thành chất bổ thì dẫn vào màng mỡ để đạt ra các tạng, sung túc
châu thân, tăng thêm chất dầu mỡ, chủ nhuận trạch, đều là công cán của thấp. Cứ xem khí tạng Tỳ
không đủ thì làm ráo, nhưng thái quá trái lại bị bệnh thấp. Bởi vậy Nội Kinh mới nói Tỳ chủ thấp, lại
nói Tỳ ghét thấp. Phàm bị bệnh thấp đều lấy trị Tỳ làm chủ. Thủy Hỏa nung nhau làm thấp nên thấp làm
bệnh có cả Thủy Hỏa. Những thuốc trị thấp tánh đều bình hòa, chính là Thủy Hỏa có thể gồm trị.
Phục Linh, Biển Đậu, Ý Dĩ vị đều lạt, là thuốc thánh để lợi thấp, thấp thái quá thì Thổ khốn, nên lợi
thấp thì có thể kiện Tỳ. Liên Tử, Khiếm Thiệt hơi ngọt và chát có thể thâu khí thấp nên làm kiện Tỳ.
Bạch Truật có dầu, dùng để bổ hệ thống dầu mỡ của Tỳ. Nhưng dầu lại không dẫn nước hay lợi Thủy,
mùi thơm, tánh ấm cũng chủ lợi Thủy, lại hay thăng phát làm cho khí của Tỳ Thổ chạy lên trên. Nên
Bạch Truật là thuốc chánh để bổ Tỳ. Thương Truật khí ấm mà hăng, nên hơi có tánh ráo, chỉ bổ Vị chứ
không bổ Tỳ, lại có màu xanh, được tánh Mộc, có thể làm sơ tiết, là vật để trị hàn thấp. Vả chăng thấp
gồm Thủy hóa. Thủy hóa thái quá tức là hàn thấp, thì bệnh bụng trướng đi tiêu chảy. Hoa Tiêu cay ấm
dùng để tan hàn thấp, có thể sát trùng hóa thấp. Ngô Du cay hăng, trừ thấp rất nhanh. Bạch Khấu, Càn
Cương, v.v… đều là để trị hàn thấp. Chứng ợ chua, ói chua (bộ tiêu hóa dư nước chua) bệnh nầy có hai
trường hợp: Một là hàn thấp, nên dùng Ngô Chu Du, Thương Truật, Quế Chi, Sanh Cương. Hai là nhiệt
thấp nên dùng Huỳnh Liên, Huỳnh Bá, Huỳnh Cầm, Thạch Quyết Minh, Thanh Bì, Long Đởm Thảo,
v.v… chỉ thêm chút Ngô Chu Du, Hoa Tiêu để phản tá. Vả chăng, chua nghĩa là do thấp hóa ra. Thấp và
nhiệt hóa thành chua, như mùa Hè canh thịt cách đêm thì chua. Nếu để tủ lạnh thì không chua, men ủ
phát nóng chế thành dấm chua, đều là nhờ nóng ủ ẩm mà hóa chua. Nên Huỳnh Liên và các vị thuốc
đắng ráo chính là để trị thứ thấp do nhiệt hóa. Còn hàn thấp thì như cải làm dưa chua. Hóa chua nầy là
thấp do hàn hóa, những vị cay, ráo như Ngô Chu Du đúng là để trị thấp do hàn hóa, thấp chạy xuống
chân thì làm khước khí sưng chân. Tây y nói bệnh khước khí thì nước tiểu chua nên biết được là thấp.
Phàm bệnh khước khí phần nhiều là hàn thấp nên dùng nước ấm để làm chủ. Lại thêm Mộc Qua, Ý Dĩ,
Ngưu Tất để dẫn cho thông khí thấp dưới chân. Nhưng bệnh khước khí cũng có trường hợp do nhiệt
thấp, phải Phòng Kỷ, Huỳnh Bá, Thương Truật, Mộc Thông, Long Đởm Thảo, v.v. Những vị đắng dẫn
đi xuống để trị. Thấp chứa ở Tỳ thì trong bụng trướng, lâu ngày nước nhiều bụng bành ra phải trục
nước. Dùng Cam Toại, Đại Kích, Nguyên Hoa, Khiên Ngưu. Có công lực mạnh tợn, kèm theo Đại
Táo, Sâm, Truật, Cam Thảo, để bổ Tỳ Thổ, trừ thái quá, sợ e tổn đến cơ thể. Tỳ bị ăn uống đình đốn
thì thấp không hóa, phải dùng Thần Khúc để tán thấp. Chỉ Xác, Trần Bì, Mộc Hương hành khí để hành
thấp. Vả chăng, nước lửa giao nhau mà làm ra Thấp Thổ, tạng Tỳ trong thân người ứng theo. Bạch
Truật tính ấm mà nhuận chính là vật Thủy Hỏa giao nhau, nên đúng bổ hệ thống Tỳ. Huỳnh Tinh vị ngọt
tánh bình có nhiều chất nhựa, được tánh bình của khí Thủy Hỏa giao nhau nên đúng là thuốc bổ Tỳ.
Sơn Dược có chất màu trắng nên bổ Tỳ âm để bổ thấp. Huỳnh Cầm, Thương Truật có chất nước, mà vị
mạnh thì thêm hỏa cho Tỳ để táo thấp. Xích Thạch Chỉ là một thứ chất đất có thể táo thấp. Trần Bì,
Hậu Phát, Binh Lang trừ thấp là vì Mộc sơ Thổ. Còn Tang Bì, Tật Lê lợi thấp, là Kim hành Thủy. Thấp
tràn ra tấu lý thì thũng. Tang Bì giống như màng ở trong người nên trị được. Phòng Kỷ trong bọng xốp,
có hình như bánh xe ngoài có thể chạy ra tấu lý, trong đi suốt Tam Tiêu, có thể thông hơi nước. Mộc
Thông trong ruột cũng bọng xốp giống Phòng Kỷ, vị đắng tiết, nên đều là thuốc quan trọng để hành
thấp. Thấp từ thắt lưng xuống chân, dùng Thổ Phục Linh, Tỳ Giải, Oai Linh Tiên, Ý Dĩ, những vị lợi
giáng như thế đều trị được. Lại phải tùy lạnh nóng mà gia giảm. Nếu thấp nung ra da phát vàng, thì nên
dùng Nhân Trần, Tần Bì, Ích Mẫu Thảo, vừa tán vừa thông để trị. Bàng Quang không thông phải Trạch
Tả, Xa Tiền, Côn Bố, Hải Thảo, những vị ấy phần nhiều sanh trong nước, trong đá, nên hóa nước Bàng
Quang. Đó là thanh Hỏa lợi Thủy, là phép để trị thấp. Thấp cùng với nhiệt nung thì làm ra thử. Các
sách luận về thử không biết đến cội nguồn bèn chia ra âm thử, dương thử, giống như trúng nhiệt, trúng
hàn, không phải nghĩa thiệt của thử nữa. Trần Tu Viên cho thử là nhiệt, chớ không biết nhiệt hợp với
thấp làm ra thử. Sách Nguyệt Lịnh nói: Thổ nhuận nhục thử (Thổ ẩm hầm ướt). Chỉ có ẩm ướt rồi mới
thành thử, nên trị thử phải gồm hai chữ thấp nhiệt mới được phù hộp. Mùa Hạ bệnh ôn, mùa Thu bệnh
dịch lỵ sốt rét, đều cảm khí thử, tức là thấp nhiệt. Như thế quyết không thể dùng thuốc ráo. Ráo thì
ngăn thấp không lưu thông, lại không thể dùng thuốc biểu. Dùng thuốc biểu thì phát nóng, thấp càng
nung, chỉ một mực thanh lợi. Phương Lục Nhất Tán tuy tầm thường nhưng là thuốc chánh để thanh nhiệt
lợi thấp. Huỳnh Liên vị đắng, hay tả nhiệt, lại hay ráo thấp, cũng là thuốc chánh để trị thử. Thương thử
phát nóng, nên dùng Hương Nhu để tan thấp nhiệt ở da thớ. Còn thử biến ôn dịch thì Thạch Cao, Huỳnh
Liên làm chủ. Đã có sách chuyên khoa, không thể kể hết. Tóm lại không thể phát biểu, chỉ nên tả nhiệt
lợi thấp. Đến như thương thử biến kiết lỵ không thể phát hạn, lại không thể lợi Thủy, chỉ nên thanh
nhiệt rồi thấp tự hóa. Huỳnh Liên, Huỳnh Cầm làm chủ, thương thử biến sốt rét thì quí ở tán thấp, thanh
nhiệt. Tam Tiêu Bàng Quang, tiểu tiện mát thì sốt rét tự trừ. Thổ Phục Linh, Trư Linh, Cát Căn, Độc
Hượt tán thấp để trị Thái Dương Bàng Quang. Huỳnh Cầm, Biếc Giáp, Thanh Bì, Đởm Thảo thanh
nhiệt lợi Thiếu Dương Tam Tiêu, hai phủ gồm trị thì ổn. Đàm, sốt rét là thấp súc tích kết thành.
Thường Sơn Diệp có thể thấu đạt để thổ. Ngược Mẫu là đàm cùng huyết kết hợp. Biếc Giáp, Mẫu Lệ,
Sơn Giáp có thể phá được. Đó là chứng kèm của thấp. Không thể nói hết. Lại như Ngũ Da Bì dùng để
trị da, Ngũ Linh Tán dùng Quế Chi để trị hàn thấp. Thang Ngũ Lâm dùng Sơn Chi để trị thấp nhiệt.
Tóm lại, thấp thuộc hệ thống tạng Tỳ, mỡ sa của Tỳ liền với màng Tam Tiêu, thấu suốt trong ngoài để
đạt Bàng Quang. Cho nên trị thấp kèm trị các chỗ. Xét kỹ khí thấp vốn là Thủy Hỏa hợp hóa, nên có
hai chứng lạnh nóng khác nhau.
Tham luận: Từ Xuân sang Hạ là từ khí ấm sang khí nóng, từ Thu sang Đông là từ mát sang lạnh. Đó là
âm dương của thời gian. Từ Đông sang Nam, từ Tây sang Bắc là âm dương của không gian.
Có thái dương hệ vận hành, có bầu trời không thể không có thời gian và không gian. Đông Nam Tây
Bắc, âm dương nóng lạnh, nước lửa phản chiếu đối chọi nhau mà khí thấp thổ hóa sanh.
Thế phản chiếu theo làn sóng hồi tụ trùng trùng từ bao la vào Thái dương hệ, rồi vào con người cũng
thế thôi. Tim thuộc hướng Nam, Thận thuộc Bắc, Gan thuộc Đông, Phổi thuộc Tây, theo làn sóng hồi tụ
của Thái Cực mà cấu tạo thành thế Tỳ Thổ trung ương. Cho nên âm dương giao nhau mà tác dụng thấp
thổ hiển bày.
Ngoài cõi thiên nhiên có sáu khí là phong, hàn, thấp, táo, hỏa, nhiệt. Đã là sáu khí, đã có nhiệt sao lại
còn có hỏa? Đủ thấy cứu tận hỏa cũng vừa là khí vừa là hình. Vì thế trực tiếp với lửa thì cháy, gần lửa
quá thì nóng ráo, vẫn trong ảnh hưởng của lửa mà ở xa là nhiệt. Chính vì thế chữ hỏa vừa nằm trong
sáu khí lại vừa nằm trong ngũ hành, sáu khí là khí, còn năm hành là hình. Thử là thủy hỏa giao nhau,
cho nên nói phong hàn thấp táo hỏa thử, hay phong hàn thử thấp táo hỏa cũng đều chưa đúng. Và đến
mùa thử, càng tìm chỗ mát hoặc nằm dưới gạch cho mát đều có thể xảy ra trúng thử. Còn đi ngoài
đường nắng quá cảm nhiễm khí nóng sanh bệnh, thì lại là trúng nhiệt chớ không phải trúng thử. Cho nên
bệnh trúng thử thì mạch âm, còn trúng nhiệt thì mạch dương. Đó là 6 khí ngoài thiên nhiên không thể
không minh định rõ.
Bịnh thấp trong con người rất đa đoan, hoặc do ăn uống, hoặc do sinh hoạt, hoặc do nghề nghiệp, hoặc
do khí hậu, hoặc do phong thổ, hoặc do truyền thống, trong môi trường âm dương chênh lệch của cơ
thể mà bệnh thấp không thể không trở thành đa đoan. Thí dụ: phong thấp khước khí cũng là bệnh thấp;
nước chua dạ dày tăng cũng thuộc bệnh thấp; chứng đau lưng khi nằm vẫn đau cũng thuộc bệnh thấp;
bệnh thấp ôn (ban trắng), sốt xuất huyết, bệnh Gan yếu, trong thân tự nhiên xảy ra có những chỗ bầm,
bệnh dịch chuột, bệnh cùi ướt đều thuộc loại bệnh thấp, lấy khí thấp làm trụ cốt, và tùy thuộc vào lệch
về nóng về lạnh, nhẹ nặng, cao thấp, trong ngoài, gấp huỡn mà bệnh chứng không thể như nhau, chớ
không chỉ thuộc về ngoại cảm khí hậu. Lấy đâu để minh định là lệch về nóng hay lệch về lạnh? Phải
lấy mức âm dương bình thường của cơ thể lành mạnh làm tiêu chuẩn.
Về năng lực đối trị với bệnh thấp, thể chất của vị thuốc cũng chiếm một tầm quan trọng. Đành rằng
muốn tìm công năng đặc biệt của một vị thuốc, cần phải họp cả hình sắc, khí vị, tánh chất, tính tình lại
rồi mới quyết định. Nhưng thấp có hàm ẩn nghĩa ẩm ướt. Cho nên những vị thuốc trị thấp không có tánh
chất cứng, ráo thì cũng phải có tính chất bộng xốp, như ta dùng giấy thấm để chậm mực. Thí dụ: cứng
ráo như Huỳnh Liên, Hậu Phát, Trầm Hương. Nhẹ, xốp bộng như Huỳnh Cầm, Mộc Thông, Phòng Kỷ,
hoặc râu bắp, cây bắp …
Trong năm vị, có vị chánh, có vị chạnh. Mặn, ngọt,chua, cay, đắng là chánh. The, ngứa, lạt, chát, béo
là chạnh. The ngứa là chạnh của cay. Lạt, béo là chạnh của ngọt. Chát là chạnh của chua. Chua thật nhẹ
rơi vào lạt. The ngứa thật nhẹ cũng rơi vào lạt. Béo ngọt thật ít cũng rơi vào lạt. Cho nên bệnh thấp
gặp quá mặn, quá chua, quá cay, quá ngọt đều không thể điều giải được thấp. Chỉ có lạt, ngứa, đắng,
chát là bốn vị quan trọng đối với bệnh thấp. Ta hãy xem như Phụ Tử ngứa nóng, trị được thấp hàn. Bán
Hạ ngứa nóng cũng trị được thấp hàn. Cây rau mác thể bọng xốp, vị ngứa, tánh mát, dễ thông tiểu tiện,
cho nên có hiệu nghiệm đối với bệnh nước chua bao tử. Hay Huỳnh Liên, Huỳnh Cầm trị được thấp
nhiệt. Trái ổi xá lỵ non có thể áp dụng trị nước chua bao tử. Phục Linh rút được thấp, đều là công hiệu
của vị đắng, chát, ngứa, lạt. Chất dầu, mỡ, tuy là vị trợ thấp giúp cho nhuận, nhưng với độ lượng rất
nhẹ ít thì lại là lạt, có thể giúp cho dẫn nước lưu thông. Do đó Tam Tiêu là tổ hợp màng mỡ và màng tế
bào sớ dai làm thành tác dụng đường nước.
Tánh bệnh với tánh thuốc bao giờ cũng đối lập. Thí dụ: bệnh nóng phải dùng thuốc mát, bệnh lạnh phải
dùng thuốc nóng. Chỉ trừ trường hợp hai chiều hoặc trên lạnh dưới nóng, hoặc trên nóng dưới lạnh,
hoặc ngoài nóng trong lạnh, hoặc trong nóng ngoài lạnh, mới áp dụng kiểu lạnh nóng giao xen như hoàn
Ô Mai của Trọng Cảnh. Cho nên dù có ai nói thứ thuốc nào đó trị được bệnh gì đó hay lắm. Nếu là
thầy thuốc không thể dễ dàng nghe theo! Ít nhất phải trãi qua một cuộc kiểm nghiệm xem thuốc đó lệch
về âm hay lệch về dương, và bệnh với thuốc có đối nhau như thợ mộc rà mộng hay không, thì mới
quyết định được. Mặc dù thuốc trị bệnh thấp không biết bao nhiêu mà kể, nhưng còn cần phải biết là
thấp hàn, thấp nhiệt, bệnh trên dưới trong ngoài, chớ đâu phải chỉ là một thứ! Cho nên nghe nói Ký Nin
là thuốc chuyên trị bệnh sốt rét, rồi bệnh sốt rét nào cũng cứ áp dụng Ký Nin. Thế là thuốc sống mà
thầy thuốc thì chết! Cho nên tôi nói muốn chữa bệnh, ít nhất phải biết rõ nguồn bệnh là hư, là thiệt, là
hàn, là nhiệt, chứng nào gốc, chứng nào ngọn, thì mới nên làm việc cứu người trong cơn bệnh tật.
Luận về bệnh tật, thì tâm lý trào lưu thời đại cũng là một điểm quan trọng không thể xem thường! Ta
hãy xem như khi xưa lâu lâu mới gặp một người bệnh suyễn. Từ khi kỹ nghệ lạnh thịnh hành thì người
thành thị càng dễ sanh bệnh suyễn. Khi xưa, những người lam lũ ở quê mới có cơ nhiễm bệnh phong
thấp, và đến mùa thử nhiệt mới có người bệnh trúng thử. Từ khi kỹ nghệ lạnh được mở mang, số người
thị thành ngủ phòng lạnh đều dễ bị nhiễm phong thấp và trúng thử. Cũng như từ khi phong trào lạm
dụng phân uré làm cho đa số người thị thành cũng như thôn quê đều mất nhiệt lực bình thường. Nếu kể
cho kỹ về những loại bệnh thuộc trào lưu thời đại thì cũng có thể kể không xiết! Đó là chưa kể đến
phân hóa học ảnh hưởng vào những vị thuốc do người trồng, lại là một chuyện khác.
Luận giả bàn về hàn thấp có dẫn dưa cải làm ví dụ. Nhưng thật ra dưa cải có nhiều cách làm. Cách
làm có hành, rất ngon nhưng ăn vào có cảm giác như ăn rất nhiều thịt, thường làm nóng, táo bón và áp
huyết lên; làm với nghệ thì vàng tươi, tính chỉ hơi ấm, không như có hành. Nếu không trình bày kỹ sợ e
người đọc tưởng luận giả hiểu lầm.
Nhìn chung đoạn luận về thấp thổ, luận giả dẫn chứng từ Kinh Dịch đến khí hậu cơ thể, sinh lý, bệnh
lý, dược lý, thật là tường tận. Nhưng phạm vi quá bao la nên theo ý chúng tôi, ai muốn đi sâu vào sự
thật một cách xác thực ít nhất phải khảo qua dược tính của những vị thuốc trưng dẫn cho rõ ràng, thì sự
lợi ích mới có cơ vững chắc.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading