LỤC VỊ HOÀN
(Từ bài Bát vị hoàn Ông Tiền Ất bỏ Quế Phụ để hữa
bệnh trẻ em)
Thục địa 8 lạng (thuốc của Thủ túc thiếu âm,
Quyết âm)
Sơn thù 4 lạng (Túc Quyết âm, Thiếu âm)
Sơn dược 4 lạng (Túc Thái âm)
Mẫu đơn 3 lạng (Thủ quyết âm, Túc thiếu âm)
Trạch tả 3 lạng (Thủ túc Thái dương, Thiếu âm)
Bạch linh 3 lạng (Thủ Thiếu âm, Túc Thái dương,
Túc
thiếu dương)
Các vị tán nhỏ, trộn với Thục địa, cho mật ong vào viên
bằng hạt ngô đồng (0,3g), mỗi lần uống 70 – 80 viên, với
nước muối nhạt. Nên uống khi đói lòng, uống xong ăn thức
ăn ngon để trận lên, làm cho thuốc không ở mãi trong dạ
dày mà đi thẳng xuống dưới hạ tiêu để tả khí xung nghịch.
Phương này chữa các chứng can thận bất túc, chân âm
suy tổn, tinh khô, huyết kém, lưng đau chân nhức, di tinh, ỉa
ra máu, tiêu khát, đau lậu (lâm bế), khí bị đờm dãi vít lấp,
mắt mờ, mắt hoa, tai ù, tai điếc, khô cổ, đau họng, đau lưng,
đau đùi với các chứng thận hư phát sốt, đổ mồ hôi, đổ mồ
hôi trộm, mất máu, thủy tà dồn lên thành đờm (bệnh lâu
ngày âm hỏa bốc lên, tân dịch sinh đờm mà không sinh
huyết, nên làm mạnh chân thủy để chế bớt tướng hỏa thì
đờm tự nhiên tiêu), thủy hư huyết hư phát sốt, ho hen, khát
nước (thận hư thì đưa nhiệt lên phổi mà sinh ho hen, ấn
mạnh đến xương thì nóng bỏng tay), hoặc thận âm hư tân
dịch không giáng xuống được, hư hỏng mà thành đờm đến
nỗi ho xóc, hoặc đầu choáng váng (dâm dục quá độ, thận
khí không thể trở về nguyên chỗ đó là khí hư, mà đầu
choáng váng, thổ huyết, băng huyết, rong huyết, can không
giữ được huyết, đến nỗi huyết chạy càn bậy, đó là chứng
huyết hư mà đầu choáng váng). Lại nữa chứng tiểu tiện
không nín được, thận hư sinh khát, mất tiếng, răng không
chắc, răng đau vì hư hỏa, buồn phiền vật vã vì huyết hư, lưỡi
khô, lưỡi đau, gót chân đau, các chứng lở ghẻ ở hạ bộ, các
chứng hư thũng ở đầu mắt, phàm các bệnh sốt của trẻ em
mà theo loại chứng dương đều chữa được rất tài, nên bảo
rằng “làm mạnh chủ thủy để chế bớt dương quang” là thế.
a) Công năng:
Ông Tiền Ất cho trẻ em là thuần dương không âm, cho
nên dùng bài này để chữa được tất cả các chứng như tiên
thiên bất túc như chậm mọc răng, chậm biết đi, hở mỏ ác,
nghẽo cổ. Vì là thuần dương nghĩa là khí dương còn non,
thuần khí không phải nói dương có thừa thì không có phép
bổ dương, cho nên bỏ Quế, Phụ để dùng, hễ uống vào là ứng
nghiệm ngay, từ đó, tôi tôn là bài thuốc thánh để bổ âm,
thực là mở mang được sự mù điếc, mà cứu được nạn chết
non, thừa kế được công ơn của Trọng Cảnh mãi mãi. Hễ thận
thủy hư không chế được hỏa thì dùng phương này làm chủ.
Trong thận không phải chỉ có một mình thủy mà có cả hỏa
mệnh môn, thận không hư thì thủy đủ chế được hỏa, thận
hư thì hỏa không có thủy chế ngự mà sinh ra chứng nhiệt
cho nên gọi là âm hư hỏa động, nên Hà Gian bảo rằng:
“thận hư thì sinh nhiệt” là thế.
Triệu Dưỡng Quỳ chuyên dùng phương này, thường bốc
thang lớn để chữa bệnh và nói: “Đem ngay chứng thương
hàn khát lâu ra mà bàn, nhiệt tà vào vị phủ thiêu đốt tân
dịch cho nên sinh khát, sợ tân dịch trong trường vị khô đi
nên phải hạ ngay để giữ lấy tân dịch”. Lần sau lại nói: “chỉ
uống nước không thể không cho, chứ không có phép chữa
nào khác”. Do có chữa nữa cũng chỉ dùng Cầm, Liên, Tri, Bá,
Mạch, Vị thiên hoa. Nặng lắm thì gia Thạch cao, Tri mẫu. Ấy
đều là lấy thủy hữu hình để tưới vào hỏa vô hình, làm sao tư
dưỡng được cho chân âm ở trong thận, nếu đem bài Lục vị
cho uống thì khỏi khát ngay, đâu đến nỗi nhiệt truyền vào
Thái âm mà sinh ra táo thực đại tiện rắn nữa.
Bài Lục vị chuyên bổ thận thủy, bài Bát vị đã bổ thận
thủy lại bổ cả tướng hỏa, tuổi trẻ nên dùng bài Lục vị, người
già thủy hỏa đều suy kém thì nên dùng bài Bát vị. Huống chi
tuổi già chân thủy ở thận đã hư, tà hỏa nhân đó lấn vào mà
làm hư nhiệt, đến nỗi thành các chứng đau lưng, chân bại,
nhổ ra đờm, tiêu khát, tiển tiện không nín được, đau lậu,
không có Quế Phụ để ôn tán liệu có được không? Người ta sợ
nóng nhưng không biết thứ hỏa bổ ấy là nguyên khí chân
dương. Nguyên khí của chân dương khi đã hồi phục được thì
thứ hỏa tà âm ế phải tiêu ngầm đi, thật là thuốc thánh để
chữa chứng thủy tràn lên thành đờm, phương thần để chữa
chứng huyết hư phát sốt, chỉ tư dưỡng phần âm mà hỏa tự
nhiên xuống chứ không cần phải giáng hỏa. Kìa như vị Thục
địa tính ấm, Đan bì tính mát, Sơn dược tính chát, Bạch linh
tính thấm thấu, Sơn thù tính thu, Trạch tả tính tả, bổ thận
kiêm cả bổ tỳ, Phương thư nói: “Bổ ích tỳ vị để bồi bổ cho
mẹ của vạn vật”. Thu tinh khí bị hư hao lại, nuôi khí tư
dưỡng thận, chế hỏa lợi thủy, khiến cho bộ máy thông lợi
mà tỳ thổ khỏe chắc, thật là có bổ có tả để thành công, rõ là
phương thuốc hay xưa nay không thay đổi được.
b) Ý nghĩa:
Đó là phương thuốc thuần âm, vị trọng mà nhuận hạ,
thuần âm là khí của thận, vị trọng là chất của thận, nhuận
hạ là tính của thận, không dùng bài này thì không thể khiến
cho thủy về nguyên chỗ của nó, trong đó chỉ có Thục địa là
đầu vị của tạng này còn 5 vị kia là tá như Sơn dược là âm
kim, quẻ cấn biến trong quẻ khảm, cứng đọng mà sinh kim
cho nên vào Thủ thái âm làm vinh nhuận da dẻ, thủy phát từ
nguồn cao cho nên khơi thủy phải khơi từ núi, vị Sơn dược
làm rắn, là Thái âm thổ, nguồn của chân thủy, thủy thổ
thành một khí thuận thẳng xuống dưới rốn, như vị Sơn thù là
âm mộc, can thận đều ở dưới, mượn chất chua chát để thu
liễm sự lan tràn, thủy hỏa lên xuống tất phải do kim mộc
làm đường lối, cho nên cùng với Sơn dược làm chủ đi xuống
bên tả bên hữu để giữ, khơi tràn ra, hai vị ấy không tách rời
nhau, họ Lý họ Chu thường dùng hai vị này ở phương thuốc
khác thì biết. Đơn bì thuốc của Thủ túc Quyết âm, thiếu âm
đưa được tâm hỏa xuống bàng quang, thủy hỏa sánh đôi, tả
tâm bổ thận mà lại có vị Phục linh thấm thấp để đưa dương
xuống. Trạch tả mặn tiết để đưa âm xuống, nào khơi nào
tháo, làm cho nước không chỗ nào không chảy xuống vào
bể. Ấy là ý nghĩa mầu nhiệm về chế phương này. Một thuyết
nói: “Trạch tả để tả thủy tà ở Bàng quang mà tai mắt được
sáng suốt, sáu kinh đều chữa cả mà chuyên chú dụng công
về can thận, hàn táo không thiên lệch mà bổ được âm, thêm
được huyết”. Nếu uống được luôn thì công hiệu khó mà kể
cho hết, làm tỏ tai sáng mắt là bảo thấm lợi được thấp nhiệt
ở hạ tiêu, thấp nhiệt đã hết thì khí trong trẻo đưa lên cho
nên nuôi được 5 tạng, mạnh được âm khí, bổ được hư tổn,
khỏi choáng váng đầu, có công năng làm cho tỏ tai sáng
mắt ấy là cổ phương thường dùng, người đời nay phần nhiều
hay ngờ là làm cho lòa mắt vì uống nhiều quá, thận thủy lợi
quá mà mắt phải lòa, vì cổ phương phối hợp nhiều ít rất
đúng không thể thêm bớt được.
c) Gia giảm: (nên xem cả cách gia giảm bài Bát vị).
Thận khí hoàn là thuốc bổ thủy vì Thục địa là thuốc đại
bổ tinh huyết, không biết một khi tinh huyết đủ thì chân
dương tự nhiên sinh ra, huống chi những vị Sơn thù, Sơn
dược đều làm cố sáp được tinh giữ được khí, khí là hỏa, hỏa
ở trong thủy là chân dương, thuốc này không hàn không táo,
rất bình, rất đạm, rất hay, rất lạ; phỏng có gia giảm chẳng
qua vài ba bốn vị. Nay người ta phần nhiều chọn những vị
thuốc bổ trong bản thảo, tự ý gia vào, cô bổ không tả, khách
nhiều gấp hai chủ, không chuyên trách được mà công năng
của bài Lục vị lại bị thụt lùi. Người đời dùng phương này
thường phạm bốn điều lỗi: Thục địa không phải sản xuất từ
đất Hoài khánh [12] thì dược lực yếu, bào chế không cửu
chưng cửu sái [13] thì không chín, hoặc ngờ Thục địa nê trệ
mà giảm bớt đi thì đầu vị lại yếu, hoặc ngờ Trạch tả hay tả
mà giảm đi thì chức năng làm sứ lại kém thì làm sao mà bàn
việc thuốc với họ được!

  • Hình thể gày đen khô khốc thì bội Thục địa, khử Trạch
    tả, nếu tiểu tiện không lợi thì gia Mạch môn, Ngũ vị, nhất
    thiết cấm dùng Trạch tả. Đấy không phải là thủy không lợi
    mà thực là tinh hao kiệt.
  • Có chứng sốt âm (sốt về chiều hoặc về đêm, hoặc cả
    ngày lẫn đêm đều nóng hầm hập luôn), thì bội Đơn bì; can
    hỏa thịnh quá gia Bạch thược (dùng sống), nếu thế hỏa cháy
    mạnh làm mạch khó nhảy nổi thì gia Tri Bá dùng nước tiểu
    trẻ em tẩm sao khô; Nếu can khí thịnh, can huyết hư, tính
    nóng vội hay cáu gắt thì giảm Sơn thù, bội Đơn bì, gia Bạch
    thược, Sài hồ.
  • Tỳ hư kém ăn thì bội Bạch linh, Sơn dược khử Đơn bì.
  • Huyết hư âm suy bội Thục địa, Sơn thù gia Lộc nhung.
  • Thận hư đau lưng mỏi gối thì gia Đỗ trọng, Ngưu tất.
  • Tinh hoạt, nhức đầu, chóng mặt, tối mắt thì bội Thục
    địa, Sơn thù, tinh hoạt quá thì gia Phá cố chỉ.
  • Tiểu tiện hoặc nhiều hoặc ít, hoặc đỏ hoặc trắng thì
    bội Phục linh, nếu tiểu tiện nhỏ giọt thì bội Phục linh, Trạch
    tả, kèm thấp nhiệt thì gia Chi tử, Mộc thông, tiểu tiện đi luôn
    thì khử Trạch tả, gia Ích trí (sao muối 3 lạng, cay nóng để giữ
    vững khí).
  • Tâm hỏa thịnh và có ứ nhiệt bội Đơn bì gia Mộc thông.
  • Tỳ vị hư yếu, da dẻ khô nhám bội Sơn dược.
  • Đàn bà huyết khô, kinh bế gia Quy, Thược, Nhục quế,
    tiểu tiện nhiều ít, hoặc đỏ hoặc trắng thì bội Phục linh.
  • Các chứng huyết thuộc đại hư của đàn bà cũng nên
    dùng bài này, có hư nhiệt thì bội Đơn bì, khô kiệt thì khử
    Trạch tả bội Thục địa, ăn ít thì khử Mẫu đơn bì, hàn trệ thì
    gia Quan quế, đau nhói thì gia Thanh bì, Nhục quế; sữa
    không thông thì bội Thục địa gia Mộc thông khử Trạch tả
    (Trạch tả đã thấm lợi lại tổn thương phần âm mà sữa tức là
    huyết).
  • Các chứng sốt của trẻ em, bệnh mới mắc hay hư đã
    lâu, không bệnh nào là không dùng được, thực là thánh dược
    đối với nhi khoa, nếu hoặc nóng quá thì bội Đơn bì, nóng cực
    độ thì gia Tri Bá, nóng và khát thì gia Mạch môn, Ngũ vị bội
    Thục địa.
  • Bụng hư trướng thì Thục địa sao khô, bội Linh Trạch,
    gia Ngũ vị.
  • Nóng mà mửa thì gia Ngũ vị, Ngưu tất.
  • Tỳ hư đi tả và kiết lỵ kéo dài thì gia Thỏ ty, Phá cố chỉ.
  • Ỉa mửa do nhiệt gia Ngũ vị.
  • Nóng rét gia Sài hồ, Bạch thược.
  • Động kinh phát sốt gia Long đởm thảo, Tần giao, Sài
    hồ, Bạch thược, Mộc hương.
  • Cam nhiệt bội Đơn Thục.
  • Đau bụng đi lỏng bội Linh Trạch, lâu lắm gia Phá cố
    chỉ.
  • Cam mắt gia Sài hồ, Bạch thược, Tật lê, Cúc hoa.
  • Cam nhiệt, bụng to, bắp thịt teo róc thì Thục địa sao
    khô, bội Phục linh Trạch tả gia Xa tiền, Ngưu tất.
  • Nóng biến chứng gia Thăng ma.
  • Các chứng như tiên thiên bất túc, như chậm biết đi,
    chậm mọc răng, chậm mọc tóc, chậm biết nói, hở mỏ ác,
    nghẽo cổ, gù lưng, dô ngực đều nên gia Lộc nhung, Lộc giác
    giao, nặng lắm gia Hà xa.
    Mượn các loại huyết nhục hữu tình để giúp công năng
    cho loài thảo mộc thì không chứng nào là không công hiệu.
    (Đó đều là những kinh nghiệm tâm đắc của tôi xin kể sơ lược
    ra đây. Nhưng trong các phương Lục vị, Bát vị thực là công
    dụng kỳ diệu về phép vệ sinh. Bể trong thì còn thấy đáy chứ
    đọc ở đây thì không cùng được nguồn, người xưa nói: “Y giã
    ý giã” (nghề y là ý tứ), ý tôi hiểu rõ mà miệng không nói hết
    được, chính là thế đó.
    d) Cách dùng thang tống:
    (Nên tham khảo với cách dùng thang uống bài Bát vị).
    e) Sự cấm kỵ:
  • Phàm hỏa hư, tỳ vị yếu dễ đi ỉa chảy thì không nên
    dùng nhiều.
  • Người chân âm thịnh, béo trắng, thấy có chứng sốt
    nóng, đấy là thổ hư không thể tàng được dương thì cấm
    dùng.
  • Chứng vong dương tuy thấy nóng dữ, ấy là hỏa bốc ra
    ngoài, nguyên khí đã thất thoát thì cấm dùng.
  • Đờm ở tỳ phế bít lấp, hoặc đến nỗi phát suyễn nghịch
    thì cấm dùng.
  • Vì thủy thịnh mà phát thũng trướng, tuy có Linh Tả
    cũng cấm dùng.
    f) Cách biến hóa:
  • Phương này gia Nhục quế 1 lạng gọi là Thất vị địa
    hoàng hoàn, chữa chứng thận thủy không đủ, hư hỏa bốc
    lên, phát sốt, khát nước, miệng lưỡi sưng lở hoặc chân răng
    lở loét, hầu họng đau hoặc hình thể tiều tụy, lúc ngủ ra mồ
    hôi trộm, bài này có thể dẫn hỏa vô căn xuống mà về
    nguyên chỗ. Một khi thận thủy không đủ, hư dương lấn lên
    tất phải dùng phương này để dẫn hỏa về nguyên chỗ. Hỏa
    của năm thứ tình chí có thể dùng chất ướt (thấp) để vùi dập
    mà tắt thẳng đi, còn hỏa long lôi thì chỉ nên theo tính của nó
    mà dẫn nó. Vị Nhục quế tính nóng, cùng một tính với hỏa,
    xen lẫn vào các vị thuốc làm tráng thủy của hạ tiêu thì có
    thể dẫn hỏa vô căn xuống mà về kinh. Đó cũng là ý nghĩa
    mọi vật đều theo loại của nó mà tụ hợp. Và chất Nhục quế, ở
    nửa giữa trở xuống, cho nên tính của nó chuyên chạy về
    thận kinh, gốc ở đất có nghĩa là ưa xuống dưới, huống chi
    tướng hỏa ký ở khoảng Giáp Ất. Can Đởm mộc vượng thì tốn
    phong động mà hỏa cháy ngọn sáng. Cổ nhân cho là thận
    không thể tả, tả can tức là để tả thận. Sách Bản thảo nói:
    “can gặp Quế thì khô đi”. Quế là thuốc chủ yếu để trị can.
    Nội kinh nói: “dùng thuốc nhiệt đem chữa bệnh nhiệt là
    phép tòng trị kỳ diệu, chính hợp với ý nghĩa noi theo tính
    của nó mà dẹp đi, hoặc giả sợ nóng mà không dùng thì sao
    hiểu được cái lẽ thăng giáng huyền vi của tạo hóa mà dùng
    nhầm thì thận bị tả mà càng hư thêm, càng hư thì hỏa càng
    bốc”. Theo thuyết Tố vấn nói: “khí tăng mà thắng, dùng
    thuốc hàn lương lâu ngày lại theo hỏa mà hóa, há không
    nghe ư?”
  • Phương này gia Hoàng bá, Tri mẫu đều một lạng gọi là
    Tri bá Bát vị hoàn, chữa chứng âm hư hỏa động, xương yếu
    tủy khô. Mạch hữu xích vượng thì nên dùng. Sách Tập giải
    nói: “Quân hỏa là tâm hỏa, có thể dùng nước để tưới tắt, có
    thể dập thẳng đi được, như loại Hoàng liên có thể chế được,
    tướng hỏa là thiên hỏa, là long lôi hỏa, là âm hỏa không thể
    dùng nước mà tưới tắt được, cho nên phải theo loại của nó
    mà vùi lại, chỉ loại Hoàng bá mới có thể đưa xuống được”.
    Xét bài Tri bá Bát vị cùng với bài Bát vị Quế phụ bên
    nóng bên lạnh trái nhau mà uống đều có công hiệu. Bởi vì
    người ta khí bẩm không giống nhau cho nên bổ âm bổ
    dương đều thích đáng. Thuốc đặt ra là để bổ chỗ thiên lệch,
    cứu chỗ tệ hại, bài Lục vị để bổ âm, bài Bát vị để bổ dương,
    bài Thập bổ để bổ âm dương đều hư, đấy đều là thuốc để tư
    dưỡng nguồn sinh hóa của tiên thiên, từ khi người đời cho là
    dùng Tri Bá để bổ âm trở lại hại tỳ vỵ là không đúng. Tiết
    Lập Trai nói: “Hễ ham tửu sắc quá độ tổn thương phế thận,
    chân âm hư thì không nên uống quá nhiều Sâm Kỳ, uống
    nhiều thì chết vì sợ dương vượng mà âm tiêu hao đi”. Từ khi
    thuyết này lưu hành mà người đời chữa bệnh âm hư phát ho
    thì xem Sâm Kỳ tựa như Nhân ngôn, cho Tri Bá là thánh
    dược, khiến cho người đau về chứng ấy trăm người không
    sống được một, thật đáng thương hại! Vì bệnh phát lên là do
    phòng lao, chân âm đã hao kém, âm hư hỏa bốc lên mà ho
    hen, trước nên cho uống bài Lục vị để bổ chân âm, làm cho
    thủy thăng hỏa giáng, tiếp đó dùng Sâm Kỳ là thuốc cứu
    phế, bổ mẹ thận khiến cho kim thủy tương sinh thì bệnh dễ
    khỏi, cũng có kẻ dùng Sâm Kỳ mà không làm tráng thủy
    trước để chế dương quang mà vội cho uống ngay Sâm Kỳ để
    bổ dương trở lại khiến cho dương hỏa vượng mà kim càng bị
    thương tổn, đó là không biết ý nghĩa cái gì nên trước cái gì
    nên sau. Lại có vị hỏa cũng là dương hỏa thực thì nên giáng
    như loại Đại hoàng, Thạch cao trong bài Lương cách ẩm
    cũng tạm dùng được. Hư hỏa thì có loại Sâm, Kỳ, Truật đấy
    là phép bổ thổ để tàng dương, nên dùng bài Bổ trung.
  • Phương này gia Quế Phụ, Xa tiền, Ngưu tất đều 1 lạng
    gọi là Kim quỹ thận khí hoàn (lấy ý nghĩa thu nhiếp thận khí
    về nguồn gốc cho nên đặt tên là như vậy), chữa tỳ, phế,
    thận đều hư, lưng gối chân nặng nề, tiểu tiện không lợi,
    bụng dạ trướng thũng, chân tay phù thũng, suyễn gấp đờm
    nhiều đã thành chứng cổ, hoặc khí hư thủy tràn lên thành
    đờm, dùng phương này vừa bổ vừa trục đi, lại chữa chứng
    cước khí bốc lên, bụng dưới tê dại, với chứng chuyển bào
    của đàn bà đái không thông, không phải bài này thì không
    thể cứu được.
    Thổ là mẹ của vạn vật, thủy là nguồn của vạn vật, là
    phần rất trọng yếu trong thân người, tỳ hư thì thổ không chế
    được thủy, thận hư thì thủy không yên được vị trí, cho nên đi
    ngược lên mà tràn ra ngoài bì phu, nhân đó mà công trục
    nữa thì cái họa làm cho hư thêm hư, nguy không thể chữa
    được. Bài Bát vị là thuốc chủ yếu của tỳ thận, dùng Xa tiền
    làm tá để tiết thủy ở Thái âm, Ngưu tất để khai khiếu ở
    Thiếu âm, cho nên uống nó vào thì tiểu tiện vọt ra như suối
    chảy mà chứng trướng khỏi, không hao tổn gì đến khí chân
    nguyên. Tỳ phế bị hàn thì khí không hóa được thủy cho nên
    bài Kim quỹ dùng Quế để làm chuyển động bộ máy thì thủy
    tự nhiên chảy xuống, không phải như bài Tứ linh chuyên chú
    về lợi thủy. Bài Kim quỹ thận khí hoàn của Trọng Cảnh bổ mà
    không trệ, thông mà không tiết, thực là phương thuốc thần
    diệu để chữa chứng thũng.
  • Phương này gia Ngũ vị 2 lạng gọi là Đô khí hoàn, chủ
    yếu là chữa chứng ho lao, bổ ích nguồn phế khí để sinh thận
    thủy, lại gia Quế để chữa chứng tiêu khát. Lại gia Ngũ vị 1
    lạng, Nhục quế 1 lạng gọi là Bát vật thận khí hoàn, chủ bình
    bổ thận khí để cho chắc răng tươi sắc mặt.
  • Phương này gia Ngũ vị 2 lạng, Mạch môn 3 lạng gọi là
    Bát tiên trường thọ, lại gia một cái rau thai (hà xa), đều để
    chữa hư tổn tiêu khát, lao nhiệt. Rau thai vốn là khí huyết
    của người ta sinh ra, cho nên bổ được khí huyết mượn thêm
    dược lực, khiến cho từ chỗ vô tình biến thành hữu tình.
  • Phương này dùng Thục địa 2 lạng, Dược, Thù, Đơn đều
    5 đồng, Linh, Trạch đều 2 đồng rưỡi, gia Quy vĩ, Sài hồ, Ngũ
    vị đều 5 đồng viên với mật, Chu sa làm áo gọi là Ích âm thận
    khí hoàn, tức là bài Minh mục địa hoàng hoàn của Đông Viên
    chữa chứng hư mắt tối, gia Sài hồ là để đưa dương lên trên.
    g) Phụ: 6 cách biến hóa của họ Tiết
    (Họ Triệu nhờ được y án của họ Tiết mà làm cho ý nghĩa
    tỏ thêm ra, suy rộng ra mà gặp bệnh nào cũng thông biến
    rộng rãi, ngoại tà tạp bệnh không bệnh nào là không thống
    nhiếp quán triệt, mới phát huy được hết tác dụng của bài
    Lục vị).
    g1. Tư thận sinh can ẩm. Dùng bài Lục vị giảm đi
    một nửa phân lạng mà gia thêm Sài hồ, Bạch truật, Đương
    quy, Ngũ vị, hợp với bài Tiêu giao bỏ Bạch thược gia Ngũ vị
    là ý hợp với bài Đô khí, vì để sinh can, cho nên bỏ Bạch
    thược mà để Bạch truật, Cam thảo để bổ tỳ, bổ tỳ là để sinh
    kim mà chế mộc, lấy cách chế làm cách sinh, ấy là lẽ tự
    nhiên của trời đất.
    g2. Tư âm thận khí hoàn. Bỏ một vị Sơn thù mà gia
    Sài hồ, Quy vỹ, Ngũ vị, nhưng hợp với Tiêu giao, Đô khí để
    chữa cả can lẫn thận, nhưng dùng Sinh địa, Quy vỹ là để
    thông hành ứ trệ, Sài hồ sơ thông mộc khí, bỏ Bạch thược là
    sợ hại đến sức sơ thông, gọi là Tư âm là để nuôi dưỡng
    quyết âm đều dùng Ngũ vị, tuy hợp với Đô khí nhưng thực ra
    để ngăn ngừa mộc phản khắc là ý nghĩa tả Đinh (hỏa) bỏ
    Sơn thù là không muốn làm mạnh mộc lên.
    g3. Nhân sâm bổ phế thang. Ý nghĩa càng biến hóa
    vô cùng, thực huyền diệu như rồng bơi đùa ngoài bể, bỏ
    Trạch tả mà gia Sâm, Quy, Kỳ, Truật, Trần bì, Cam thảo, Ngũ
    vị, Mạch môn; vị Bạch truật với bài Lục vị tính phản nhau,
    sao mà hợp lại được? Trả lời rằng: theo từ chỗ hợp với bài
    Sinh mạch thì tự nhiên có nghĩa thông với nhau, mượn vị
    Phục linh để hợp cái điệu của bài Ngũ vị dị công, dùng vị
    Đương quy, Hoàng kỳ để hợp cái hay dưỡng huyết, trong đó
    không dùng Trạch tả là vì nó làm cho phát sốt, khát nước,
    tiểu tiện không điều hòa, nên không có lẽ lại làm cho kiệt
    nữa, đã không nên làm cho kiệt thì phải làm cho sinh ra
    ngay, thế nên mới có bài Sinh mạch, tức là có thể cho bài
    Sinh mạch Dị công vào được, vả lại thủy sinh từ nguồn cao,
    có thể nảy ra khí hóa, phế khí sắp kiệt hết sinh ra khát nước,
    không điều hòa, cho nên phải bỏ ngay vị Trạch tả mà sinh
    được kim, nuôi được thủy, lại bổ được thổ để sinh kim, thế
    mới biết người chế ra bài này đã khổ tâm lắm.
    g4. Gia vị Địa hoàng hoàn. Lại gọi là Ức âm địa
    hoàng hoàn, gia Sinh địa, Sài hồ, Ngũ vị đều bằng nhau,
    càng biến càng thấy hay lạ, Sài hồ từ bài Tiêu giao đưa lại,
    Sinh địa từ bài cố bản đưa lại, Ngũ vị vẫn nguyên hợp với bài
    Đô khí, trong đó nói trong tai ngứa đau hoặc mắt mờ, đờm
    suyễn hoặc nóng khát, đái gắt mà tóm lại cho là can thận
    âm hư thì biết là chứng âm hư phân nửa, là do hỏa uất gây
    ra, dùng Sài hồ để sơ tán hỏa uất, không có Sinh địa thì
    không làm mát được, dùng Ngũ vị để tả hỏa mà bổ kim để
    sinh thủy, nói ức âm thì không sơ tán được, mà sơ tán là ức
    chế đó, Sinh địa mát huyết là có ý nghĩa tả đó rồi, tả đi là ức
    chế đó.
    g5. Cửu vị địa hoàng hoàn. Dùng Xích phục linh thay
    Bạch phục linh, bỏ Trạch tả gia Xuyên luyện tử, Đương quy,
    Sử quân tử, Xuyên khung, đó là chủ dược để tả quyết âm
    phong, vẫn là phép chữa cả can và thận, bởi vì có cam tất
    có trùng, đều là do phong mộc hóa sinh ra, can thì có lẽ
    công phạt được, nhưng công phạt con thì tổn thương đến
    mẹ, cho nên dùng bài Lục vị để bổ mẹ, bỏ Trạch tả là không
    nên sơ tiết thận lần nữa.
    g6) Ích âm thận khí hoàn. Lục vị gia Ngũ vị vẫn
    nguyên là bài Đô khí lại gia hai vị Sinh địa và Đương quy,
    thế là đưa bài Tứ vật tới, vì sao vậy? Vì có các chứng khác
    như: phát sốt, sốt cơn, sốt chiều là can huyết hư, thế thì còn
    dùng Sài hồ để sơ tán sao được nữa, huyền diệu nhất là ở
    câu nói vùng ngực buồn tức bởi vì chứng buồn tức ở đây là
    do táo hỏa ở can đởm gây ra, buồn tức náu ở trong vỵ, nếu
    không dùng cả Sinh địa và Đương quy thì thanh sao được vị
    hỏa mà sinh được vị âm, nếu dùng Sài hồ tức là bài Tiêu
    giao thì vào can đởm mà không thể vào vị âm được. Một
    đằng dùng Sài hồ, một đằng không dùng Sài hồ, thành ra
    một đằng chữa chỗ này một đằng chữa chỗ khác, ý nghĩa
    cách nhau như trời với vực, thực là mầu nhiệm.
    Họ Triệu sở dĩ cho là phép gia giảm Lục vị phải nghiêm
    ngặt mà chuyên dùng Lục vị, tuy họ Tiết đã mở đường,
    nhưng các phép biến hóa ở trên đại khái chưa thấu triệt đến
    nơi đến chốn, cho nên bỏ hết mà không dùng. Thấy rằng
    hợp với Sài Quy mà lại bỏ Bạch thược, trở lại cho Bạch thược
    sơ can ích thận, đó là điều sáng suốt của ông, còn bảo rằng
    Bạch truật với Lục vị là thủy thổ phản nhau, Nhân sâm là
    thuốc của tỳ không vào được thận, lời bàn đó cũng cao kiến,
    giản dị mà nghiêm ngặt, nhưng tham khảo kỹ phép của họ
    Tiết thì rút cục là họ Triệu câu nệ, các phép biến hóa của họ
    Tiết tựa hồ như rỗng tuếch, nhưng kỳ thực là rất nghiêm
    ngặt, người học thuốc phải hiểu rõ chỗ khéo léo ấy mà để ý
    cảm thông, đại ý là lấy can thận làm chủ mà cứu rộng đến
    tỳ phế thì yên ổn được tỳ phế, hai thứ hỏa bất tất phải chữa
    mà tự nhiên yên thuận.
    Các vị thuốc nên phối cùng.
    Phương thuốc chữa thủy hỏa có thể dùng chung một
    đội ngũ để lập công thì thuốc của thận cùng với thuốc của
    can, thuốc của phế đều là thứ tự của nguồn sinh hóa. Thuốc
    của thận như Câu kỷ, Thung dung, Cố chỉ, Thỏ ty, Ngưu tất,
    Đỗ trọng, Địa cốt, Tục đoạn, Tri mẫu, Hoàng bá, Huyền sâm.
    Thuốc của phế như Mạch môn, Ngũ vị; thuốc của can như
    Sài hồ, Bạch thược, Đương quy; thuốc chữa tinh huyết như
    Lộc nhung, Mê nhung, Lộc giao, Hà xa, Nhân nhũ, còn các vị
    khác đều có vị nên dùng có vị nên kiêng, nhất thiết không
    tăng gia bậy bạ, nếu vị này vị kia chống nhau thì phương
    thuốc hay sẽ thành dở.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading