Bẩm được đúng vị ngọt thì chuyên vào kinh Tỳ. Nếu có kèm theo hoặc đắng chua cay mặn, thì
đều là vị xen của ngọt, nên kèm vào các tạng. Cam Thảo thuần ngọt có công năng bổ Tỳ âm, tăng thêm
khí dương cho Vị, hoặc dùng sống hoặc dùng chín, hoặc để hòa các thuốc đều được phù hợp. Huỳnh
Tinh tuy ngọt mà nhiều nước, đúng là bồi bổ khí thấp cho Tỳ Thổ. Sơn Dược màu trắng vị hơi chua,
nên bổ Tỳ mà gồm vào Gan Phổi. Bạch Truật ngọt nhưng thêm vị đắng ấm nên bổ Tỳ ôn Thổ, hòa khí
Gan để thơ Tỳ khí. Thương Truật vị ngọt nhưng đắng ráo, nên ráo Vị trừ thấp. Huỳnh Kỳ vị ngọt nhưng
khí thạnh nên bổ khí. Tề Ni (Phòng Đản Sâm) vị ngọt có nhiều nước nên sanh tân. Hạt Sen vị ngọt hơi
chát, mùi thơm nhẹ, là được khí Thủy Thổ nên bổ Thổ để đông đặc tinh, cầm tiêu chảy. Khiếm Thiệt vị
ngọt ít, vị chát nhiều, là bẩm vị Thổ trạch ít, được tánh Kim thâu nhiều hơn, lại sanh từ trong nước, là
thuộc về loại quả của Thận, nên dùng để thu chắc kinh Thận, và cầm ỉa chảy. Ý Dĩ cũng sanh trong
nước nhưng vị rất lạt, không bổ cũng không chát, thì thuần tánh thấm ứa thông lợi. Phục Linh cũng vậy
đều vì vị lạt mà không chát. Xích Thạch Chỉ (đá tàng ong) chất dính rít, lại vị ngọt thì có công năng bù
đắp, cầm ỉa. Vỏ Dư Lương là chất đất ở trong đá ăn được, vị ngọt mà hơi mặn. Ngọt có công năng bổ
chánh để cầm ỉa. Mặn có thể vào Thận để đặc tinh. Cả hai đều dùng vị ngọt, cũng dùng vị chát rít, nếu
không chát chỉ thuần ngọt như Long Nhãn thì Qui Tỳ, lại sản xuất ở Châu Diêm, được khí Hỏa của Hạ
lịnh mà sanh, vì Hỏa sanh Thổ nên bổ Tim gồm bổ Tỳ.
Sử Quân Tử Nhân (hột trái Lăng dây) vị ngọt có thể bổ Tỳ, mà lại có công năng trừ sán lãi vì khí gồm
cả mùi thơm, có tánh ôn liệt, nên uống nó kị uống chung với trà nóng, phạm liệt thì ỉa chảy, giống như
Bã Đậu uống nóng thì sổ.
Còn luận về súc vật thì thịt bò ngọt ấm, rất bổ Tỳ Vị. Thịt dê tuy ngọt nhưng có mùi khét, được tánh ấm
của Mộc, nên bổ Tỳ mà kiêm bổ Gan. Thịt heo tuy ngọt nhưng có kèm theo vị mặn, được tánh lạnh của
Thủy Thổ và nhuận Thận. Sữa người vị ngọt, vốn là chất bổ của ăn uống được khí hóa của Phổi và Vị
mà thành nên có thể nhuận dưỡng Vị để giúp sanh huyết dịch, nhưng thuốc bổ Tỳ Âm không có gì qua
nó.
Cam Tòng vị ngọt nhưng thơm hăng, nên chủ về điều chỉnh phần khí của Tỳ; cũng như Mộc Hương
điều chỉnh phần khí, vì nó có mùi hương nên quy về tạng Tỳ, nhưng vị kèm theo hơi cay, lại được tánh
ấm của khí Mộc, nên có công năng làm sơ Thổ. Vả lại Mộc Hương, cây nó năm cành, năm lá, năm lóng
đều hợp với số của Tỳ Thổ, nên có công năng điều chỉnh tạng Tỳ. Còn luận về các loại trái cây như
Đại Táo da đỏ thịt vàng, vỏ cay, thịt ngọt, được tánh Hỏa sanh Thổ, nên thuần bổ Tỳ Vị.
Còn trái Lê vị ngọt mà nước nhiều, nên nhuận Tỳ Phế. Trái Vải sanh ở miền Đông Nam, vị ngọt chua
nên quy về tạng Tỳ và Gan để ôn bổ. Tóm lại vị ngọt đều vào Tỳ, lại phải xét vị kèm theo để thấy
được kèm vào tạng khác, thì chủ trị của nó có thể được sáng tỏ.
Tham luận: Như trên đã nói, nếu luận về cách tìm tánh thuốc, hoặc căn cứ vào đất đai mùa màng, hoặc
chỉ theo khí vị mà luận, đều cũng phải nhắm vào điểm thiên trọng làm chủ. Đến đây căn cứ vào vị mà
luận cũng không thể lìa tay thước thiên trọng. Cho nên phương pháp nếm thuốc không thể không chiếm
một phần quan hệ.
Muốn nếm một vị thuốc được đầy đủ là phải niếm từ lúc tươi, rồi khô, thứ sống, thứ chín, hoặc nếm
khô, hoặc nếm nước nấu sắc, thì mới có thể gọi là hoàn bị. Khi nếm phải vị giác được thanh tịnh, trong
một buổi chỉ nếm được một vị. Khi nếm phải tập trung chú ý ở đầu lưỡi. Bắt đầu từ khi mới nếm, trải
qua mấy lần biến hóa về hương, vị, khí, và cuối cùng đến mức không thay đổi, điểm nào nặng, điểm
nào nhẹ, phải ghi nhớ cho rõ, để hợp với hình sắc tánh chất mà quan sát, thì điểm thiên trọng ta tức
khắc thấy. Theo đó những điểm phụ thuộc cũng tự rõ bày. Thí dụ Sơn Dược vốn có sẵn màu trắng, tức
là màu của Kim, chất bột, vị ngọt, tức là chất vị của Tỳ. Nếm qua khỏi cái ngọt cảm thấy có vị chua là
vị của Gan. Cho nên bổ Tỳ mà kèm theo Gan Phổi. Bạch Truật tuy ruột có màu trắng nhưng trắng vàng,
tổ chức củ và tế bào giống hệt tổ chức tế bào của Tỳ âm. Chất bột vị ngọt là chất vị của Tỳ mà kèm
theo đắng the ấm; nên ngoài bổ Tỳ ấm Thổ ra còn hòa khí Gan để khí của Tỳ được thông. Tuy vậy nếu
đã biết chắc là không phải thuốc độc, lắm khi còn phải nhấp vào cổ họng, miệng lưỡi cho thấm đều
mới có thể biết rõ được.
Với vị Tề Ni, theo truyền thống dược điển thì nó thuộc loại có tánh cách dẫn đi lên như Kiết Cánh,
nhưng vị ngọt nhuận, im dẻo nên sanh tân thăng khí bên phải. Ngày nay trên thị trường thuốc Bắc rất
khó thấy Tề Ni, và Tề Ni đã biến vào vị trí sâm Phòng Đản. Thế rồi thầy thuốc đua nhau dùng Phòng
Đản thế Nhơn Sâm. Nếu căn cứ trên đất nước Việt Nam mà xét thì thấy củ ngò tây (ngò gai, ngò ô rô),
củ nó từ tánh chất, khí vị, công dụng, hình thức đều giống hệt cái gọi là Phòng Đản Sâm ấy, chỉ khác
nhau ở mới cũ lớn nhỏ mà thôi. Thế mà lắm lúc trên thị trường Trung Y còn bị dùng Phòng Phong để
đánh tráo thế vào cái gọi là Phòng Đản Sâm nữa là khác! Thầy thuốc không thể không biết!
Có người bảo Đông Y dùng thuốc không chính xác bằng Tây Y, thế sao vị Ý Dĩ Nhân đối với Đông Y
chỉ là một loại hột có chất bột, vị rất lạt, thiếu hẳn tánh cách sung bổ và cố sáp, thuần ở thấm ứa thông
lợi. Nhưng trên công bố của hệ thống Tây Y ở Nhật thì lại cho Ý Dĩ Nhân vào ngôi cường tráng sung
bổ bậc nhất. Đây cũng là một điều ta cần phải kiểm nghiệm lại!
Xích Thạch Chỉ nguyên là đất trong những lỗ của đá Tàng Ong thuộc loại khoáng sản, có hai màu hoặc
đỏ hoặc trắng, chất rất dính dẻo, vị ngọt, béo, chát, nặng hơn đất thường. Còn vỏ Dư Lương cũng là
một thứ đất hóa đá, nhưng hóa từ ngoài trước, trong ruột còn lại một thứ bột đất mịn, vị ngọt hơi mặn
chát tựa như Xích Thạch Chỉ. Có tiếp xúc đến tận cội nguồn như thế mới biết rõ sự thật.
Còn như Long Nhãn khi khô rồi màu biến đỏ gọi là nhãn nhục, là kết tinh của khí hỏa hạ lịnh, tuy ngọt
gắt nhưng còn mang theo vị hơi đắng. Vì thế nên dùng vào việc Hỏa sanh Thổ, bổ Tim kiêm bổ Tỳ.
Trong đó có hàm ẩn chứng bộ tiêu hóa dư nước chua bởi tâm khí không quy Tỳ, mà thứ đường khác
không dùng được.
Còn Sử Quân Tử nhân, tức là hột của trái dây lăng leo, là một thứ cây mọc mé nước, lấy phù sa làm
thức ăn thân là một thứ cây mà dây. Thân, cành dẻo, có thể làm vành cho nơm, đó. Lá tựa lá Bằng
Lăng, trái có bốn cạnh như trái khế, và chỉ to bằng ngón tay cái, trong nhân có dầu. Cả rễ cây, hoa, lá,
trái nếu đem phơi khô sao chín thì thấy có mùi thơm đặc biệt với tánh ấm nồng có thể thay thế cho trà
làm nước uống giúp bộ tiêu hóa ngừa lãi đũa. Vì nhân có dầu nên khi uống nó đụng phải nước trà Tàu
nóng liền đi tiêu chảy, tựa như uống Bã Đậu gặp nước nóng. Xét ra những vị thuốc trị sán lãi phần
nhiều mang theo tánh lạnh, nếu không có cách chế ngự thì sẽ đổi bệnh lãi ít thành lãi nhiều, như sở
đoản của Khinh Phấn (Calomel). Ở Sử Quân Tử không bị sở đoản ấy. Quả là một vị thuốc trị lãi rất tốt
vậy.
Nói về thịt bò, ta nên để ý đến màu vàng và tiếng kêu, cách sống của nó. Bò không làm ruộng sâu
được, màu chính là màu vàng, dở chịu mưa nắng, tiếng kêu đúng âm cung, thịt rất giàu chất đường, vị
ngọt, tánh ấm, cho nên người xứ lạnh ăn thịt bò bổ nhất, lại còn có khi ép nước thịt sống mà uống nữa
là khác. Nên đối với con bò, nếu là bò tam thể hay bò hóng, đối với người cơ thể có thấp nhiệt, ăn vào
độc vô cùng, có thể xảy ra bệnh cùi ướt nữa là khác! Còn dân xứ ấm bắt chước ăn thịt bò tái hoặc thịt
sống, không mấy ai khỏi bệnh sán sơ mít. Đây là điều cần biết!
Về thịt Dê, tuy cũng vị ngọt có nhiều đường, nhưng có mùi khét, Dê là Mùi kết tinh của tánh thú dâm,
được tánh ấm của Mộc nên luận giả nói bổ Tỳ kiêm bổ Gan. Chính vì thế mà điều dưỡng cho bệnh ung
thư thì thịt dê tốt hơn thịt bò, thịt heo. Đây cũng là điều nên để ý!
Thịt heo tuy cũng vị ngọt, mỡ nhiều, nhưng kèm theo vị mặn nhiều muối, được tánh mát của thủy thổ mà
tư Tỳ nhuận Thận. Đối với dân xứ ấm thật là phù hợp. Cho nên trong đa số dân gian, ông Tây thì bò
bổ, ông Ấn Độ thì dê bổ, ông Tàu thì heo bổ, cũng chẳng qua là bổ theo cái mình thấy bổ mà thôi!
Đến như sữa người, nếu dùng để chữa bệnh người lớn thì nhìn qua tính chất nó đại khái như luận giả
đã nói. Nhưng nếu nhìn thật sâu thật kỹ ta sẽ thấy có rất nhiều chi tiết không ngờ, vì nó còn mang theo
toàn bộ tánh nết của đương sự mà lộng vào. Cho nên mướn vú nuôi trẻ, đứa trẻ dễ giống tính nết của
vú hơn là giống cha mẹ. Có người bảo đó là chẳng qua do bồng bế mà thấm nhiễm thế thôi. Nhưng nếu
vú nuôi là người tu Tịnh Độ thì nhất định đứa trẻ phải nhiễm máu Tịnh Độ. Đây là năng lực truyền cảm
không thể chối cải!
Về vị Mộc Hương, ngoài mùi thơm, vị còn kèm theo ngọt, cay, đắng, được khí ấm của Mộc, chất lại có
dầu, có công năng sơ Thổ. Nếu uống ít dễ tăng nước chua bao tử, nhưng nếu nướng dưới tro cho chín
thì không có cái trệ ấy. Vì chất có dầu nên khi gặp Chỉ Xác rất dễ sơ thông hành trệ, nên có thể điều
chỉnh tạng Tỳ vậy.
Còn trái vải tuy cũng vị ngọt, lại kèm theo chua nên ôn bổ cả Gan và Tỳ. Nhưng cũng chính vì thế mà
ăn nhiều trái vải khô dễ xảy ra lợi răng chảy máu.
Tóm lại, vị chánh là vị nào thì vào tạng ấy. Nhưng nếu có vị kèm tùy thuộc tất phải có tánh kèm vào
tạng khác, không thể không nghiệm xét một cách tường tận.
Loại vị ngọt thì qui về kinh Tỳ,tức là vị ngọt chiếm phần lớn vậy, hoặc chỉ vào Tỳ Vị, hoặc kèm vào tạng khác, như thế làm sao phânbiệt?
Written by