HẬU PHÁC
“ Hậu Phác (tân) khổ, (tánh) ôn, hàn thấp trướng thũng, Kiện Tỳ cường Vị, giáng khí tiêu vưu”.
BIỆT DANH
Xuyên Phát, Lưu Phát, Xích Phát, Hậu Bì, Trọng Bì, Tử Phát.
HÌNH LOẠI
Thuộc loại Kiều Mộc, vỏ cây lớn.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Tỳ Vị để giải tán khí thấp đầy
TÁNH VỊ
Vị cay đắng, tánh ấm, không độc.
CHỦ TRỊ
■ Là vị thuốc cần thiết để hạ thiệt, tan đầy, trừ thấp, mạnh vị, ấm trung châu, tiêu đàm hạ khí, khí huyết tê, hoắc loạn, bụng đầy, ho suyễn, trong bụng có lãi.
KINH NGHIỆM
■ Đi chung với Chỉ Thiệt, Đại Hoàng thì thành thang thừa khí.
Trang 107
■ Hợp với Thương Truật và Trần Bì là Bình Vị Tán
■ Cùng với thuốc giải thì trị nhức đầu do Thương Hàn.
■ Hợp với thuốc trị ỉa, trị kiết thì làm chắc bộ tiêu hoá.
■ Vì khí cay thì tán nên họp với chứng thấp đầy.
■ Vị đắng thì giáng nên họp với thiệt mãn.
Đến như nói sát trùng, trị lãi, phá huyết cũng chỉ là do khí hành mà có kết quả vậy thôi.
Tóm lại đặc điểm của Hậu Phác một là bình vị, hai là trừ bụng trướng.
CẨM KỴ
Sợ Trạch Tả, Từ Thạch, Hàn Thuỷ Thạch, kỵ với đậu. Vì tánh hao khí huyết nên Tỳ Vị hư kỵ; đàn bà có thai xài cũng phải cẩn thận. Ạ
Hàn thấp trướng đầy, mạch hữu quan hữu thốn hượt thiệt thì nên dùng. Trái lại thì cấm kỵ.
DỤNG LƯỢNG
Từ 7 phân đến 2 chỉ.
PHỤ LỤC
Hậu Phác là một thứ tuỳ thổ nghi mà tánh chất có thay đổi. Thí dụ Hậu Phác ở Việt Nam màu sạm đen, hương khí kém; ở Cao Miên thì vỏ dầy, vị cay đắng chát, màu đỏ sậm, khi dùng so với Hậu Phác Trung Quốc thấy tốt hơn nhiều, khi xắc ra có kết nhiều tinh thể. Đàn bà mới sanh trung châu bị hàn thấp sanh ra tê thũng, trướng đầy, dùng nó mài với nước chín mà uống, công hiệu lạ thường. Bệnh ỉa chảy dùng nó mài với nước lạnh mà uống rất hay.
Hậu Phác
Written by