Dược Lý – Phương Tễ Tóm Tắt

Dược lý tóm tắc

* Ngũ vị là : cay, ngọt, đắng, chua, mặn.

   Ăn nhiều vị cay, thì gân cứng mà móng tay, móng chân khô.

   Ăn nhiều vị ngọt, thì xương đau mà tóc rụng.

   Ăn nhiều vị đắng, thì da khô mà lông trút.

   Ăn nhiều vị chua, thì thịt chai mà môi cớn.

   Ăn nhiều vị mặn, thì mạch ngưng trệ mà sắc biến đổi.

* Rượu là thứ “khí hậu” (174) mà bốc lên, là dương.

   Thịt là thứ “vị hậu” (175) mà đi xuống, là âm.

   “Khí hậu” là dương trong dương (176) khí hậu thì phát nóng ; như các loại cay, ngọt, ấm, nóng.

   “Khí bạc” là âm trong dương (177), khí bạc thì phát tiết ; như các loại cay, ngọt, nhạt, bình, lạnh, mát.

   “Vị hậu” là âm trong âm (178) vị hậu thì tiết ra ; như các loại chua, đắng, mặn, lạnh.

   “Vị bạc” là dương trong âm (179) vị bạc thì thông ; như các loại chua, đắng, mặn, bình.

   “Nhẹ và trong” thì thành tượng, gốc ở khí trời thì hướng lên trên ; như trà thuộc loại vị bạc.

   “Nặng và đục” thì thành hình ; gốc ở khí đất thì hướng xuống dưới ; như đại hoàng thuộc loại vị hậu.

   Khí vị cay ngọt, phát tán, thuộc dương.

   Khí vị chua đắng, nôn tháo (180) thuộc âm.

   Khí dương trong phát tiết ra tấu lý, là phần trong của khí trong (181) ; làm mát Phế để giúp chân khí.

   Khí dương trong sung thực ở tứ chi, là phần đục cuả khí trong (182) ; làm tươi tốt cho tấu lý.

   Chất âm đục truyền về lục phủ, là phần đục của chất đục (183) ; làm cứng rắn xương tủy.

   Chất âm đục chạy vào ngũ tạng, là phần trong của chất đục (184) ; để nuôi dưỡng tinh thần.

XI – Phương tễ tóm tắt

* Bẩy phương là : đại phương, tiểu phương, hoãn phương, cấp phương, cơ phương, ngẫu phương, phúc phương.

   Đại phương là phương thuốc có vị quân 1, vị thần 3, vị tá 9, phối ngũ hành một tễ lớn.

   Tiểu phương là phương thuốc có vị quân 1, vị thần 2, phối ngũ hành một tễ nhỏ.

   Hoãn phương là phương thuốc bổ và trị bịnh bên trên, phối ngũ với các vị có tính hoãn ; tức là khí vị lạc. Vì chữa chủ bịnh nên dùng thuốc hoãn ; hoãn thì chữa gốc bịnh.

   Cấp phương là phương thuốc bổ và trị bịnh bên dưới, phối ngũ với các vị có tính cấp ; tức là khí vị hậu. Vì chữa khách bịnh nên dùng thuốc cấp ; cấp thì chữa ngọn bịnh.

   Cơ phương là phương thuốc có vị quân 1, vị thần 2, hoặc vị quân 2, vị thần 3, phối ngũ với một tễ số lẻ.

   Ngẫu phương là phương thuốc có vị quân 2, vị thần 4, hoặc vị quân 2, vị thần 6, phối ngũ với một tễ số chẵn.

   Phúc phương là phương thuốc khi dùng cơ phương không khỏi bịnh, thì dùng ngẫu phương, gọi là “trùng phương”

* Mười hai tễ (185) là : “tuyên tễ, thông tễ, bổ tễ, tiết tễ, khinh tễ, trạng tễ, hoạt tễ, sáp tễ, táo tễ, thấp tễ, hàn tễ, nhiệt tễ.”

Tuyên tễ có thể trừ bịnh ủng tắc, như các loại Linh khương, Quất bì.

Thông tễ có thể trừ bịnh ngưng trệ, như các loại Nhân sâm, thị Dê.

Bổ tễ có thể chữa bịh suy nhược, như các loại Mộc thông, Phòng kỷ.

Tiết tễ có thể chữa bịnh uất bế, hư các loại Đình lịch, Đại hoàng.

Khinh tễ có thể trừ bịnh thực tà, như các loại Ma hoàng, Cát căn.

Trọng tễ có thể trừ bịnh khiếp nhược, như các loại Từ thạch, Thiết tương.

Hoạt tễ có thể chữa bịnh sáp trệ, như các loại Đông quì tử, Du bạch bì.

Sáp tễ có thể chữa bịnh hoạt thoát, như các loại Mẫu lệ, Long cốt.

Táo tễ có thể trị được bịnh thấp, như các loại Tang bạch bì, Xích tiểu đậu.

Thấp tễ có thể trị được bịnh táo, như các loại Bạch thạch anh, Tự thạch anh.

Hàn tễ có thể trị được bịnh nhiệt, như các loại Đại hoàng, Phát tiêu. Nhiệt tễ cs thể trị được bịnh hàn, như các loại Phụ tử, Khương, Quế.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading