Đơn Bì hàm hàn, hành huyết tả Thận, Hữu hạn cốt chưng, thiệt nhiệt công dụng”
BIỆT DANH
Mau Đơn Bì, Hoa Vương, Hoa Tướng, Lộc Phỉ, Huyết Quỷ, Thử Cô.
HÌNH LOẠI
Là vỏ rễ cây bông Mầu Đơn, người ta thường trồng làm cảnh. Có hai loại vỏ đen, vỏ trắng gọi là Xích Đơn Bì, và Bạch Đơn Bì. Lấy vỏ rễ làm thuốc.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Tim, Thận, Gan để tả thiệt nhiệt phần huyết ở Thận và trị vô hạn cốt chưng.
TÁNH VỊ
Vị cay đắng, tánh bình, không độc.
CHỦ TRỊ
Là vị thuốc cần thiết để điều chỉnh phần huyết, có công năng thanh phục hỏa, lương huyết
Trang 87
nhiệt, thông kinh, bài ứ huyết. Những bệnh thai tiền sản hậu của huyết đều dùng được, là thuốc hay cho nữ khoa.
KINH NGHIỆM
Đơn Bì làm mát huyết hốa huyết, thông huyết nhưng tả nhiều hơn bổ. Khi dùng/ phải phân định kỹ. Lại còn trị được cốt chưng vô hạn, tả phục hỏa trong âm, như thang Tê Giác Địa Hoàng thường dùng chẳng hạn.
CẤM KỴ
Vì nó vào phần huyết làm mát huyết, hành huyết nên bệnh huyết băng và kinh hành không ngừng đều kỵ. Kỵ với Tỏi và Ngò, hơi sắt.
DỤNG LƯỢNG
Phổ thông từ 1 đến 3 chỉ.
PHỤ LỤC
Theo thực tế mà xét thì vỏ rễ cây Mau Đơn có hai loại đỏ và trắng. Vị hơi the mặn, tánh mát, chuyên đi vào phần khí và huyết của Thận làm tan ứ, thúc đẩy cho tuần hoàn Thận tăng lên, để trị vững tuần hoàn ở Thận nóng, đình trệ. Nếu người khó có
Trang 88 i
mồ hôi thì dùng Mau Đơn Bì, có mồ hôi nhiều thì dùng Địa cốt Bì trong truờng hợp bệnh Cốt Chưng lao nhiệt.
Neu mạch tả xích không huyền thiệt thì không phải đối tượng của nó.
Xét ra cây Bông Trang ở xứ ta, vỏ rễ công dụng gần giống Mau Đơn Bì, lại cũng phân hai giống vỏ đỏ và vỏ trắng. Chúng tôi đã từng áp dụng thấy có công hiệu như thế, ta nên để ý.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc