Địa Hoàng là một tên chỉ cho củ của loài thảo như củ dền Đà Lạt của xứ ta, thịt nó có màu vàng sậm. Củ lấy chế làm thuốc, có hai cách dùng: 1 là dùng tươi hay dùng khô mà sống thì gọi là Sanh Địa hay Lâm Địa – Hai là chế chín dùng làm thuốc bổ gọi là Thục Địa. Nên phải phân ra mà nhận xét.
- SANH ĐỊA
“Sanh địa vi hàn, năng tiêu thấp nhiệt,
Cốt chưng phiền lao, kiêm tiêu ứ huyết”
HÌNH LOẠI
Nguyên tên là Sanh Địa Hoàng,’là một thứ củ to của loài thảo. Khi còn tươi da màu đỏ bầm, thịt màu vàng sậm, mình nước có nhiều chất nhớt và nước tựa như củ dền, cũng vừa giống tánh mồng tơi tía, vì thế nên gọi là Sanh Địa Hoàng.
Trang 80
Sau khi phơi khô da biến màu đất, thịt biến màu đen nên gọi là Càn Địa Hoàng. Nhưng ngày nay không mấy ai xài củ tươi, chỉ xài củ khô và cũng gọi là Sanh Địa.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Tim, Gan, Thận kiêm vào ruột non để làm mát huyết thông ứ.
TÁNH VỊ
Vị ngọt, tánh lạnh, không độc.
CHU TRỊ
Là thuốc quan trọng để tư âm dưỡng huyết. Có công năng làm mát huyết nóng, tư dưỡng Gan Thận, dưỡng Tim bổ Phổi, thông huyết mạch, trục huyết tê.
KINH NGHIỆM
Địa Hoàng vào phần huyết nên cũng là thuốc quan trọng cho nữ khoa. Vì suốt đời phụ nữ không ngoài kinh kỳ, thai vựng và sinh sản, mà Địa Hoàng có thể làm mát huyết điều kinh là một, dưỡng huyết an thai là hai, tư âm sanh huyết là ba, nên thang Tứ Vật là phương chủ cho phụ khoa, mà Địa Hoàng là vị chính. Còn làm đen râu tóc nếu bởi chứng nóng khô.
CẤM KỴ
Phàm người Tỳ Vị hư nhược, đại tiện lỏng, mới sanh không thèm ăn hoặc đi tiêu chảy, lồng ngực nhiều đàm, đường khí không thông đều kỵ. Kỵ đồng, thiếc,. trà. Neu người hữu quan và tả xích không thiệt, mạch không đi mau thì không nên dùng.
DỤNG LƯỢNG
Từ 2 đến 4 chỉ. Phương to có thể dùng hai hay 3 lượng. - THỤC ĐỊA
“Thục Địa vi ôn, tư thận bổ huyết,
ích tủy điều tinh, ô tu hắc phát”
Là củ Sanh Địa theo phép chế cửu chung cửu sái, biến tánh lạnh thành tánh ấm, biến tánh nhuận hượt ra ôn bổ, biến vị mặn lạt thành ra ngọt ấm.
Trang 81
Chuyên để bồi bổ cho tuần hoàn âm huyết của Thận trong trường hợp cần ấm. Làm đen râu tóc, dễ ngủ. Và tất cả các chứng âm hư của Thận. Tất cả trường hợp mạch tả xích hư sắc đều cần dùng.
1
Trang 82
DỤNG LƯỢNG
Mỗi lần phổ thông từ 1 đến 2 chỉ đến 3 lượng.
CẤM KỴ
Tánh rít, trở ngại cho Vị. Người Vị khí bạc nhược, không thể vận chuyển nổi thì không nên dùng. Rất kỵ đồ đồng, đồ sắt. Bệnh sốt rét tuyệt đối không nên dùng.
PHỤ LỤC
Chế Thục Địa thay vì để nguyên xác, chỉ lấy nước làm cao, kết quả tuy thấy mịn nhuyễn dễ cho vào các vị thuốc khác nhưng thiếu hẳn chất xác. Khi vào cơ thể giá trị có khác. Điều này cần phải biết.
