Đắng là được vị của Hỏa, chạy vào Tim thanh hỏa tiết huyết, lý đã hiểu rồi, chỉ có những vị caylà được vị của Phế Kim mà cũng có thể vào phần huyết, như Nhục Quế, Quế Chi, Tử Tô, Kinh Giới thìnghĩa thế nào?

Phàm thuốc thuộc vị chua thì đều mang theo tánh thu liễm của Kim, được vị cay đều mang theo
tánh ấm của Mộc. Đó là lý năm hành trái nhau để tác thành cho nhau. Tâm Hỏa sanh huyết càng cần
phải nhờ Can Mộc sanh Hỏa. Đó là nghĩa bệnh hư thì phải bổ tạng mẹ, nên làm ấm tạng Gan tức là ấm
tạng Tim. Nhục Quế rất cay nên rất ấm, tuy được vị Kim nhưng kỳ thiệt kết thành tánh là Mộc Hỏa, nên
chủ vào Tim Gan phần huyết để giúp cho nguồn hóa huyết, Quế Chi càng nhiều công năng đi lên.
Trương Trọng Cảnh trong thang Phục Mạch dùng Quế Chi là cần vào Tim trợ Hỏa để hóa huyết. Viễn
Chí tánh cũng giống như Quế Chi nhưng Quế Chi là cành chạy ra bốn phía, còn Viễn Chí là rễ, hình thể
lại rất nhỏ nhuyễn, chỉ chủ bên trong vào kinh Tim để tan huyết trệ trong Tim mà thôi. Không riêng thảo
mộc vốn có vị Hỏa thì vào phần huyết. Đến như con ngựa là loại súc vật thuộc Hỏa, nên vị Mã Thông
(cứt ngựa) cũng có công năng giáng Hỏa để hành huyết. Táo Nhơn bẩm màu đỏ của Hỏa nên cũng vào
Tim dưỡng huyết, đủ thấy huyết sanh ở Tim. Đại phàm những món thuốc được tánh vị của địa Hỏa đều
vào phần huyết vậy.
Tham luận: Muốn khám phá tính chất của một vị thuốc, không thể chỉ dựa vào vị không mà được, còn
cần phải có hình, sắc, khí, chất, tánh tình, mới được gọi là hoàn bị. Tuy nhiên ngoài ra cũng còn cần
phải để ý đến thổ nghi xứ sở nữa mới mong khỏi bị lý do phiến diện.
Nếu muốn nghiệm biết ảnh hưởng kết quả của một vị thuốc mà lìa mạch chứng thì mất lý do thực tế.
Vậy thực tế kết quả khác nhau giữa Quế Chi và Viễn Chí thế nào?
Nếu người không thiếu nóng, màu da không trắng mét, mạch ba bộ bên trái không chậm yếu, nhất là tả
Xích thì không phải là trường hợp đối tượng của Quế Chi. Tức là ngược lại mới là trường hợp đối
tượng. Và khi uống vào, về chứng trước hết thấy đỡ sợ lạnh, rồi màu da lần thắm tươi. Về mạch thì sẽ
thấy tả Xích vượng trước rồi lần lên tả Quan, tả Thốn.
Nếu trường hợp người bệnh không có chứng hay quên, trong Tim không thỉnh thoảng nghe nhói, mạch
ba bộ bên trái không trì nhược, nhất là tả Xích, đồng thời tả Thốn không sắc, trệ, uất, nghịch, thì Viễn
Chí không thể dùng. Nếu đúng mạch đúng chứng, khi uống vào trước nhất thấy đỡ nhói Tim, trí nhớ lần
hồi phục, và tả Thốn sắc trệ, uất nghịch giảm trước, rồi tả Xích hư nhược giảm sau. Cho nên phương
Quy Tỳ không thể thiếu là thế.
Đó là hai thế khác nhau trong đơn độc giữa Quế Chi và Viễn Chí vậy, và nên nhớ đây là đơn cử trường
hợp nội thương chớ chưa đề cập đến trường hợp ngoại cảm.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading