CƠ CHẾ HÓA SINH
Thiên khí bất túc phía Tây Bắc, cho nên phía Tây Bắc thuộc
âm mà ở con người thì tai mắt bên phải không sáng tỏ bằng tai
mắt bên trái. (Tai mắt ở trên cho nên ứng với thiên khí).
Địa khí bất túc ở phía Đông Nam cho nên phương Đông Nam
thuộc dương mà ở con người thì tay chân bên trái không mạnh
bằng tay chân bên phải. (Tay chân ở dưới cho nên ứng với địa khí).
Phương Đông thuộc dương, thuộc dương thì tinh khí hợp lên
trên, hợp lên trên thì trên thịnh dưới hư, cho nên tai mắt sáng tỏ
mà tay chân không thuận lợi. Phương Tây thuộc âm, thuộc âm thì
tinh khí hợp xuống dưới, hợp xuống dưới thì dưới thịnh mà trên hư,
cho nên tai mắt không sáng tỏ mà tay chân thì thuận lợi. Nếu đầu
cảm phải tà khí ở trên thì bên phải nặng hơn, ở dưới thì bên trái
nặng hơn. Đó là vì âm dương của trời đất không toàn vẹn cho nên
tà khí xâm lấn vào. (Âm dương ứng với trời đất cũng như nước
chứa trong bình, bình cong thì nước sẽ cong. Khí huyết của con
người ta cũng vậy, cho nên tùy chỗ bất túc của nó mà tà khí lấn
vào).
Cho nên trời có tinh khí, đất có hình thể, trời có bát kỷ [45],
đất có ngũ lý [46].(Dương là trời giáng tinh khí xuống để gây hóa
sinh, âm là đất phân bố hòa khí để thành hình. Ngũ hành là
nguyên lý của sinh dục, Bát phong là cương kỷ của biến hóa. Bát
kỷ là giường mối của bát tiết, ngũ lý là sự phát dục của ngũ hành).
Cho nên âm dương có thể là nguồn gốc của vạn vật. (Dương
là trời để hóa khí, âm là đất để thành hình, ngũ lý vận hành, bát
phong chuyển động, sinh trưởng thu tàng theo đúng thời tiết cho
nên nói là nguồn gốc của vạn vật biến hóa).
Cho nên âm dương có thể là nguồn gốc của vạn vật (Dương
là trời để hóa khí, âm là đất để thành hình, ngũ lý vận hành, bát
phong chuyển động, sinh trưởng thu tàng theo đúng thời tiết cho
nên nói là nguồn gốc của vạn vật biến hóa).
Khí thanh dương vô hình bốc lên làm trời. Khí trọc âm hữu
hình giáng xuống làm đất. Cho nên sự vận động, sự ngừng lặng
của trời đất là do sự biến hóa thần diệu của âm dương làm cương
kỷ. (Khí thanh dương bốc lên, khí trọc âm lắng xuống, cho nên sự
động tĩnh của trời đất là do sự biến hóa thần diệu của âm dương).
Thiên khí thông vào phế, địa khí thông vào họng. (Cũng giống
như trời thu nạp khí thanh dương, đất thu nạp khí trọng trọc của
thủy cốc).
Phong khí thông với can. (Theo lẽ ngũ hành phong sinh mộc).
Lôi khí thông với tâm (Lôi là sấm, sấm là phát thanh của hỏa khí).
Cốc khí thông với tỳ. (Cốc là hang núi, hang núi trống rỗng
cũng giống như tỳ làm chức năng thu nạp).
Vũ khí thông với thận. (Vũ là mưa, thận chủ thủy dịch, giống
như nước chảy).
Lục kinh như giòng sông. (Trôi chảy không bao giờ ngừng).
Trường vị như cái bể. (Trường vị là nơi thu nạp cũng như bể).
Cửu khiếu trên dưới là nơi giòng nước dồn khí tới. (Trong sáng
cũng như chất nước trong sáng bên trong, truyền tống cũng như
nước chảy dồn đến).
Lấy hiện tượng trong trời đất so sánh với âm dương trong con
người thì mồ hôi do dương khí phát ra, ví như mưa trong trời đất.
(Mồ hôi của người phát ra ở bì phu là do dương khí mà phát tiết ra,
hiện tượng này ví với hiện tượng trong trời đất thì cũng giống như
mây bay bốc lên, mưa đổ xuống, dương khí phát tán, gió dữ lay
động, cho nên tương ứng với nhau).
Khí giữ hình trạng cho sấm, khí nghịch lên hình trạng cho
dương, cho nên chữa bệnh không theo quy luật tự nhiên thì sẽ
nguy hại. (Trái với quy luật tự nhiên thì 6 kinh sẽ rối loạn, 5 khí bị
tổn thương. Chân khí đã bị tổn thương thì tai hại xảy ra sẽ không
thể lường được).
Con gái lên 7 tuổi thận khí thịnh, răng thay tóc dài. (Số 9 là
số chót của số lão dương, số 7 là số của thiếu dương. Con gái
thuộc khí thiếu âm cho nên phối hợp với số thiếu dương. Khí âm
dương hòa hợp sẽ có thể sinh thành hình thể, cho nên lên 7 thì
thận khí thịnh mà răng thay tóc dài).
Đến 14 tuổi thì thiên quý sung túc, mạch Nhâm thông, mạch
Thái xung thịnh, kinh nguyệt xuống đúng kỳ cho nên có thể có
con. (Quý thuộc phương Bắc, hành thủy, là tên một thiên can,
mạch Nhâm mạch Xung đều là mạch Kỳ kinh. Hai mạch này lưu
thông thì kinh nguyệt dần đầy, đúng kỳ thì thấy, khí thiên chân
giáng xuống cùng hòa hợp cho nên gọi là Thiên quý. Nhưng mạch
Xung thuộc huyết hải, mạch Nhâm chủ bào thai, hai đằng giúp lẫn
nhau cho nên có thể sinh dục. Kinh nguyệt lúc bình thường thì cứ
30 ngày là một chu kỳ hành kinh).
21 tuổi thận khí đầy đủ, răng cấm (khôn) mọc mà thân thể
cũng khỏe mạnh. (Răng khôn là răng cấm, mọc sau cùng. Thận
khí đầy đủ mà răng khôn mọc, biểu hiện rằng răng là chất thừa
của xương).
28 tuổi gân cốt cứng cáp, tóc dài hết mức, thân thể cũng rất
khỏe mạnh. (Số thiên quý của phụ nữ 49 tuổi thì hết, 28 tuổi thì
khí lực được một nửa, cho nên thân thể rất khỏe mạnh vào thời kỳ
đó).
35 tuổi mạch Dương minh suy, sắc mặt bắt đầu khô, tóc bắt
đầu rụng. (Mạch Dương minh làm tươi sắc mặt, đi lên mái tóc cho
nên khí suy thì tóc rụng, sắc mặt khô sạm).
42 tuổi, ba mạch ở trên suy, sắc mặt đều khô sạm, tóc bắt
đầu bạc. (Ba mạch dương hội họp ở trên đầu, cho nên các mạch
này suy thì sắc mặt khô sạm, tóc bạc. Sở dĩ suy yếu là vì đàn bà
khí hữu dư mà huyết bất túc, vì hàng tháng kinh nguyệt thường
thoát tiết ra).
49 tuổi mạch Nhâm, mạch Thái xung suy kém, thiên quý khô
kiệt, kinh nguyệt hết, cho nên hình thể suy yếu mà không sinh nở
nữa. (Mạch Nhâm dứt nên kinh nguyệt hết, mạch Nhâm mạch
Xung suy kém nên hình thể suy yếu mà không sinh nở nữa “Trích
Thượng cổ thiên chân luận”).
Con trai 8 tuổi, thận khí đầy đủ, răng thay tóc dài. (Số 10 là
số cùng của lão âm, 8 là số thiếu âm. Con trai thuộc khí thiếu
dương cho nên phối với thiếu âm. Thiên Hệ từ Kinh dịch nói: Trời
đến số 9, đất đến số 10 tức là số cùng).
16 tuồi thì thận khí thịnh vượng, thiên quý đầy đủ, tinh khí
đầy tràn, lúc đó âm dương giao hòa thì có con. (Con trai con gái
bẩm thụ âm dương khác nhau, hình sắc tinh huyết cũng khác
nhau. Âm khí tĩnh huyết hải đầy mà có kinh nguyệt, dương khí
động giao hợp cho nên có thể sinh con. Thiên Hệ từ Kinh dịch nói:
“Nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh”).
24 tuổi thận khí đủ, gân cốt cứng cáp cho nên răng khôn mọc
và thân thể lớn mạnh.
32 tuổi gân cốt cứng cáp, bắp thịt rắn chắc. (Nam giới 64 tuổi
thiên quý hết thì 32 tuổi là khí lực đã được một nửa).
40 tuổi thận khí suy, tóc rụng răng khô. (Thận chủ xương,
răng là chất thừa của xương, thận khí đã khô, tinh không được bổ
dưỡng cho nên tóc rụng răng khô, huyết suy nên tóc rụng, xương
hư hỏng nên răng khô).
48 tuổi dương khí suy kiệt ở trên, sắc mặt khô sạm, tóc bạc
hoa râm. (Dương khí là khí của kinh dương minh bắt đầu từ mũi,
xuống cạnh miệng đi quanh môi, giao nhau ở huyệt Thừa tương,
lên trước tai đến trán, mỏ ác (thóp). Cho nên suy ở trên thì sắc
mặt khô sạm, mà tóc bạc hoa râm).
56 tuổi can khí suy, gân không cử động được, thận khí nuôi
xương, thận khí suy thì toàn thân đều mỏi mệt. (Can khí nuôi gân,
can khí suy thì không cử động được, thận khí nuôi xương, thận khí
suy thì toàn thân mỏi mệt, thiên quý đã hết thì tinh thiếu).
64 tuổi tóc răng đều rụng. (Dương khí tuyệt, tinh khí suy cho
nên răng tóc không mọc mà rụng).
Thận chủ thủy tiếp nhận tinh ba của ngũ tạng lục phủ mà
tàng trữ bên trong, cho nên ngũ tạng thịnh vượng thì thận mới có
thể tiết ra tinh khí được. (Tinh khí của ngũ tạng lục phủ đầy tràn,
thấm nhuần sang thận, thận tiếp nhận mà tàng trữ lại, không phải
chỉ một mình tạng thận có tinh khí, cho nên nói ngũ tạng thịnh
vượng thì thận mới có thể tiết ra tinh khí được. Nay ngũ tạng đều
suy, gân cốt rã rời, thiên quý hết cho nên tóc mai trắng, mình mẩy
nặng nề, bước đi không vững mà không có con nữa. Một vật lớn
lên rồi già là quy luật tự nhiên).
Có người đã già mà còn có con, đấy là vì bẩm thụ khác
thường, khí mạch thường thông mà thận khí có thừa. (Bẩm thụ khí
thiên chân rất đầy đủ).
Những người ấy tuy có con, nhưng những đứa con sinh ra thì
trai không quá 64, gái không quá 49 mà tinh khí của họ đều khô
kiệt. (Tuy già mà còn đẻ con, nhưng tuổi thọ của con cũng không
quá số thiên quý. “Trích Thượng cổ thiên chân luận”).
Khí thanh dương bốc lên thành trời, khí trọc âm lắng xuống
làm đất, hơi đất bốc lên làm mây, khí trời giáng xuống làm mưa,
mưa xuất xứ từ hơi đất, mây xuất xứ từ khí trời. (Khí âm ngưng kết
ở trên mà thành mây, khí dương tan ra đổ xuống mà thành mưa,
mưa do mây chuyển hóa cho nên nói mưa xuất xứ từ hơi đất, mây
nhờ có khí lạnh kết hợp cho nên nói mây xuất xứ từ khí trời. Lẽ trời
đất là như vậy, thanh khí trọc khí trong thân thể cũng như vậy).
Cho nên khí thanh dương tiết ra ở khiếu trên, khí trọc âm tiết
ra ở khiếu dưới. (Khí nào gốc ở trời thời đi lên, khí nào gốc ở đất
thời đi xuống, đều tùy theo loại của nó. Khiếu trên là tai, mắt,
miệng, mũi. Khiếu dưới là tiền âm, hậu âm).
Khí thanh dương phát ra ở da thửa, khí trọc âm dồn vào năm
tạng. (Da thửa là nơi thấm tiết ra, cho nên khí thanh dương có thể
phát tán. Năm tạng là nơi tàng chứa cho nên khí trọc âm có thể
dồn vào).
Khí thanh dương làm cứng cáp chân tay, khí trọc âm quy về
sáu phủ. (Chân tay cử động bên ngoài cho nên khí thanh dương
làm cho cứng cáp, sáu phủ vận hóa bên trong cho nên khí trọc âm
dồn về đó).
Thủy là âm, hỏa là dương. (Thủy vốn hàn mà tĩnh cho nên
thuộc âm, hỏa vốn nóng mà động cho nên thuộc dương).
Dương là khí, âm là vị. (Khí chỉ phân bố ra cho nên thuộc
dương, vị kết tụ thành hình cho nên thuộc âm).
Vị quy về hình, hình quy về khí, khí quy về tinh, tinh quy về
hỏa. (Hình do vị nuôi dưỡng cho nên nói vị quy về hình, khí nuôi
hình vóc cho nên nói hình quy về khí, tinh nuôi dưỡng khí cho nên
nói khí quy về tinh, hỏa sinh ra tinh cho nên nói tinh quy về hỏa).
Tinh nhờ khí nuôi, hình nhờ vị nuôi. (Hễ khí hóa thời sinh tinh,
vị hòa thời nuôi hình).
Hỏa sinh ra tinh, khí sinh ra hình. (Chất dịch tinh vi do huyết
biến hóa mà thành, hình với khí giúp đỡ lẫn nhau. Khí vận hành,
huyết xây dựng cho nên hai vật là để phục vụ cho sự sống. Tinh
không phải tự sinh ra, mà nó sinh ra bởi sự vận hóa tinh khôn.
Hình không phải tự nhiên sinh ra mà nó sinh ra bởi khí vô hình).
Vị làm tổn thương hình, khí làm tổn thương tinh. (Nghịch tiết
tấu vậy).
Tinh hóa sinh ra khí, khí làm tổn thương vị. (Tinh nhờ sự biến
hóa dinh dưỡng mới nuôi được khí. Nếu tinh không hóa sinh thời
không nuôi được khí, do đó khi tinh huyết uất kết ở trong thành
chất hôi thối cộng vào vị khí thời năm vị bế tắc không nạp vào đâu
được, đàn bà có mang tinh biến hóa 100 ngày đều tổn hại vị khí).
Vị thuộc âm bài xuất ở khiếu dưới, khí thuộc dương bài xuất ở
khiếu trên. (Vị có chất cho nên bài tiết theo đường đại tiểu tiện
phía dưới, khí vô hình cho nên lên tiết ra theo đường hô hấp ở
trên).
Vị hậu là âm, vị bạc là dương ở trong âm. Khí hậu là dương,
khí bạc là âm ở trong dương. (Dương là khí, khí hậu là thuần
dương. Âm là vị, vị hậu là thuần âm, cho nên vị bạc là dương ở
trong âm, khí bạc là âm ở trong dương).
Vị hậu thời tiết ra, vị bạc thời sơ thông. Khí bạc thời phát tiết,
khí hậu thời phát nhiệt. (Âm khí nhuần xuống bên dưới cho nên vị
hậu thời tiết lợi, dương khí hướng lên trên cho nên khí bạc thời
phát tiết. Vị bạc là ít phần âm cho nên thông tiết, khí bạc là phần
dương ít cho nên đổ mồ hôi, phát tiết là nói ra mồ hôi vậy).
Tráng hỏa làm chính khí suy, thiếu hỏa làm chính khí khỏe.
(Hỏa quá mạnh thời chính khí tất suy, hỏa bình thường thời chính
khí tất khỏe).
Tráng hỏa làm hại nguyên khí, nguyên khí cần được thiếu hỏa
nuôi dưỡng. Tráng hỏa làm tán khí, thiếu hỏa thì sinh ra khí. (Khí
sinh ra tráng hỏa cho nên nói tráng hỏa làm hại nguyên khí, thiếu
hỏa thì bồi dưỡng nguyên khí cho nên nói nguyên khí cần được
thiếu hỏa nuôi dưỡng. Vì tráng hỏa làm hại nguyên khí cho nên nói
gặp phải tráng hỏa thì khí hao tán. Vì thiếu hỏa sinh ra khí cho
nên nói khí được thiếu hỏa thì sinh trưởng).
40 tuổi âm khí đã kém suy mất một nửa, sự sinh hoạt hàng
ngày cũng giảm sút. (Con người đến 40 tuổi tấu lý bắt đầu sơ hở,
vẻ tươi nhuận hơi kém, tóc bạc hoa râm, sự sinh hoạt kém dần là
đến thời kỳ suy yếu).
50 tuổi, mình mẩy nặng nề, tai không tỏ, mắt không sáng.
(Đó là hiện tượng suy yếu dần).
60 tuổi, liệt dương, khí kém, chín khiếu không thông lợi, trên
thực dưới hư, nước mắt nước mũi đều chảy ra. (Đó là hiện tượng
suy lắm rồi).
Cho nên nói: “Biết điều dưỡng thì khỏe mạnh, không biết thì
già yếu. (Chữ “biết” ở đây là hiểu biết được cái lẽ thất tổn bát
ích[47] là phương pháp dưỡng sinh).
Người không biết điều dưỡng thì thường bất cập, người biết
điều dưỡng thì thường hữu dư. Hữu dư thì tỏ tai sáng mắt, mình
mẩy nhẹ nhàng, càng già càng khỏe mạnh, khỏe mạnh lại càng
khỏe mạnh thêm.
Khí phương Đông sắc xanh, thông với can, khai khiếu ở mắt,
tinh ba chứa ở can. Khí phương Nam sắc đỏ, thông với tâm, khai
khiếu ở tai, tinh ba chứa ở tâm. Khí Trung ương sắc vàng, thông
với tỳ, khai khiếu ở miệng, tinh ba chứa ở tỳ. Khí phương Tây sắc
trắng, thông với phế, khai khiếu ở mũi, tinh ba chứa ở phế. Khí
phương Bắc sắc đen, thông với thận, khai khiếu ở tiền âm và hậu
âm, tinh ba chứa ở thận. Trời che đất chở vạn vật mới phát sinh
được, lúc còn tiềm tàng chưa ra khỏi đất gọi là âm xử, mệnh danh
là âm ở trong âm. (Vì ở trong phần âm cho nên gọi là âm xử, hình
thể chưa phát hiện cũng gọi là âm, lấy nghĩa là âm đang còn ở
trong âm nên gọi là âm trong âm).
Khi phát hiện ra khỏi đất gọi là dương ở trong âm. (Hình phát
ra là dương, lấy nghĩa dương đang còn ở trong âm cho nên gọi là
dương ở trong âm).
Dương là chính, âm là chủ. (Dương phát tiết ra sinh khí thì
vạn vật mới sinh ra được, âm chủ trì thì vạn vật mới hình thành
được).
Cho nên vạn vật sinh ra ở mùa xuân, lớn lên ở mùa hè, thu
hoạch ở mùa thu, bế tàng ở mùa đông. Nếu trái với quy luật đó thì
bốn mùa âm dương sẽ bế tắc. (Trái quy luật thì bốn mùa bế tắc,
khí âm dương không vận hành được).
Trời lấy tiết độ 6.6 làm thành một năm, người lấy số 9.9 để
phối hợp lại. Người ta cũng có 365 đốt xương để ứng với trời đất
đã từ lâu rồi. (Bởi vì người cũng tương tự như trời đất. Tiết độ 6.6
là 60 ngày làm thành một vòng Giáp Tý. 6.6 là 6 vòng Giáp Tý (360
ngày) thành một năm. Người lấy số 9.9 để phối hợp lại, là người
với đất lấy 9 châu, 9 khiếu làm chuẩn độ để phối hợp với tiết 6.6
của trời).
Tiết độ 6.6 phối hợp với số 9.9 là để xác định thiên độ và khí
số. (Tiết độ 6.6 là độ của trời phối hợp với 9.9 là số của trời gọi là
khí số tức là khí số sinh thành).
Thiên độ là chuẩn độ suy tính sự vận hành của mặt trời, mặt
trăng. Khí số là giường mối nêu lên những tác dụng hóa sinh của
vạn vật. (Chuẩn độ suy tính của mặt trời mặt trăng là để biết rõ sự
vận hành nhanh hay chậm của mặt trời mặt trăng, nêu lên những
tác dụng hóa sinh của vạn vật là để hiểu rõ đến mà thích ứng. Khí
thích ứng không sai thì lẽ sinh thành không sai. Nhanh chậm theo
mức độ thì tháng đủ tháng thiếu do đó mà tính ra. Cho nên ngày
dài, ngày ngắn khác nhau. Tháng chuyển từ hàn sang nhiệt, sự
sinh, trưởng, thu, tàng không sai với lẽ thường).
Trời là dương, đất là âm. Mặt trời là dương, mặt trăng là âm,
vận hành có bộ vị, xoay chuyển có đường lối. Mỗi ngày đêm mặt
trời đi một độ thì mặt trăng đi 13 độ có lẻ, cho nên có tháng đủ
tháng thiếu, gồm 365 ngày làm thành một năm, tích các số lẻ mà
thành ra tháng nhuận. (Mặt trời đi chậm cho nên một ngày đêm
mới quay hết một vòng, thì 365 ngày mới quay khắp một vòng trời
mà còn lẻ 1/4 của một độ. Mặt trăng đi nhanh nên một ngày đêm
đi được 13 độ trong vòng trời mà 29 ngày đã đi khắp một vòng
trời. Nói có lẻ là ngoài 13 độ ra còn đi được 7/19 độ cho nên nói
mặt trăng đi được 13 độ lẻ, cứ 27 ngày mặt trăng đi khắp một
vòng trời 361 độ. Trong 29 ngày thì mặt trời đi được 29 độ, mặt
trăng đi được 387 độ, còn kém 7 độ mới tới kịp mặt trời. Đến 30
ngày thì mặt trời lại nhích lên tới 8/13 phần của một ngày thì mặt
trăng mới kịp mặt trời, thế là vừa hết một tháng đủ. Đại khái, mặt
trời nhích lên tới 13 phần của ngày là đầy tháng đủ, lên tới 5/13
hay 6/13 của ngày mới kịp mặt trời là hết một tháng thiếu. Cho
nên nói tháng đủ tháng thiếu gồm 365 ngày thành một năm, tích
các số lẻ thành ra tháng nhuận, vì các tháng đủ hay thiếu không
đầy đủ được thiên độ).
Trước hết định tiết đầu năm, cắm cột nêu chính xác trên mặt
đất để đo bóng mặt trời, suy tính khí thừa tháng nhuận. Như thế
thì thiên độ có thể tính ra được. (Định tiết đầu năm là nói về đời
nhà Chu lập ra phép đo bóng mặt trời, lấy ngày Đông chí làm
ngày đầu năm, cắm cột lên trên mặt đất là lấy khí trung bình để
định thời tiết, suy tính khí thừa tháng nhuận là tháng nào, thừa thì
những ngày thừa dồn vào cuối năm, tích lại thành tháng nhuận
cho nên tính được hết thiên độ).
Trời lấy số 6.6 làm thiên độ, đất lấy số 9.9 phối hợp lại. Trời
có 10 ngày thiên can, 6 lần ngày thiên can là một vòng Giáp Tý.
Khắp 6 vòng Giáp Tý làm thành một năm, tức là phép tính 360
ngày. (Mười ngày thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh,
Tân, Nhâm, Quý. Số 10 là số chót của trời đất. Thiên Hệ từ Kinh
dịch nói: “Trời số 9, đất số 10” tức là nghĩa ấy. 60 ngày là khắp
một vòng Giáp tý, khắp 6 vòng Giáp tý là hết một năm. Đó là
phép tính một năm 360 ngày).
Từ xưa những người thông hiểu thiên độ đều lấy âm dương
làm gốc của sự sống, khí cửu châu của đất, cửu khiếu của nhân
thể đều thông với thiên khí. (Thiên khí tức là khí thiên chân, hình
thể nhờ địa khí sinh, tính mệnh bẩm thụ ở thiên khí. Cho nên khí
nuôi dưỡng cho sự sống liên thông với không khí, bẩm thụ ở âm
dương mà thành căn bản và nói là người sinh ra ở địa khí mà
mệnh thuộc thiên khí. Thiên khí địa khí hợp lại thành người. Đất có
9 châu [48], người có 9 khiếu, tinh thần phảng phất, khí cùng với
trời giống nhau).
Cho nên do 10 thiên can mà sinh ra ngũ hành, do 12 địa chi
mà sinh ra tam khí [49]. (Hình thể tồn tại là nhờ có ngũ hành mà
vận động, xét nguồn gốc trước tiên thì do tam khí mà sinh thành
ra cho nên nói như thế).
Do tam khí mà thành thiên, tam khí mà thành địa, tam khí
mà thành nhân. (Không phải chỉ riêng người mới nhờ tam khí mà
sinh thành. Quy luật của trời đất cũng nhờ có tam khí, cho nên các
quẻ Càn, Khôn trong Kinh dịch đều phải nhờ lấy số 3 mà quyết
định).
Ba lần ba hợp lại thành 9 khí, phân tách ra ở đất có 9 châu,
người có 9 tạng. (Nghĩa là 9 châu ứng với 9 tạng).
Bốn tạng tàng vật hữu hình, năm tạng tàng thần, hợp lại làm
9 tạng để thông ứng với số 6.6 của trời. (Bốn tạng tàng vật hữu
hình, một là đầu trán, hai là tai mắt, ba là răng miệng, bốn là lồng
ngực, vì hình hợp với bên ngoài cho nên đặt tên như thế. Tạng
tàng thần là Can tàng hồn, Tâm tàng thần, Tỳ tàng ý, Phế tàng
phách, Thận tàng chí).
Trời nuôi người bằng năm khí, đất nuôi người bằng năm vị.
(Năm khí nuôi người là táo khí tụ ở phế, tiêu khí (khí cháy khét) tụ
ở tâm, hương khí tụ ở tỳ, thấp khí tụ ở can, hủ khí (khí thối nát) tụ
ở thận. Năm vị nuôi người là: chua vào can, đắng vào tâm, ngọt
vào tỳ, cay vào phế, mặn vào thận. Vì thanh dương hóa khí bốc
lên thuộc về trời, khí trọc âm thành vị lắng xuống thuộc về đất).
Năm khí vào mũi, tàng trữ ở tâm phế, làm cho ngũ sắc được
tươi nhuận, thanh âm được rõ rệt. Năm vị vào miệng tàng trữ ở
trường vị, năm vị để nuôi dưỡng năm khí, khí hóa thì sinh ra tân
dịch, cùng với khí mà chế hóa thành, thần cũng từ đó mà sinh ra.
(Tâm vinh nhuận ra sắc mặt, phế chủ về thanh âm. Cho nên khí
tàng ở tâm phế làm cho ngũ sắc được tươi sáng, thanh âm được rõ
rệt. Khí là mẹ của thủy, vị thì tàng trữ ở trường vị, nuôi dưỡng ngũ
khí ở trong, ngũ khí điều hòa mới sinh ra tân dịch. Tân dịch và khí
cùng chế ước chuyển hóa lẫn nhau mới sản sinh ra thần khí và
mới có sự biến hóa trong cơ thể).
Tháng giêng, tháng hai thiên khí bắt đầu dậy lên, địa khí bắt
đầu phát động, nhân khí thịnh ở can. Tháng ba tháng tư thiên khí
đang mạnh, địa khí đang tốt tươi, nhân khí thịnh ở tỳ. Tháng năm
tháng sáu thiên khí rất thịnh, địa khí lên cao, nhân khí thịnh ở đầu.
Tháng bảy tháng tám, âm khí mới bắt đầu heo hắt, nhân khí thịnh
ở phế. Tháng chín tháng mười, âm khí mới đóng băng, địa khí mới
bế tàng, nhân khí thịnh ở tâm. Tháng một tháng chạp, nước đóng
băng, dương khí phục tàng, địa khí đóng kín lại, nhân khí thịnh ở
thận. (Đó là nói về thiên khí, địa khí và nhân khí:
Tháng giêng tháng hai là tháng Dần, Mão thuộc hành Mộc,
hành Mộc chủ về phương Đông, thiên khí bắt đầu dậy lên, địa khí
bắt đầu phát động, nhân khí thịnh ở can vì can thuộc phương
Đông, hành Mộc.
Tháng ba tháng tư là tháng Thìn, Tỵ thuộc hành Thổ và Hỏa,
chủ về phương Đông Nam, thiên khí đương mạnh, địa khí đã phát
sinh, nhân khí thịnh ở tỳ vì tỳ thuộc thổ mà thổ lại sinh kim.
Tháng năm tháng sáu là tháng Ngọ, Mùi, thuộc hành Hỏa,
hành Hỏa chủ về phương Nam, thiên khí rất thịnh, địa khí đã lên
cao, nhân khí thịnh ở đầu, đầu thuộc phương Nam hành Hỏa.
Tháng bảy tháng tám là tháng Thân, Dậu thuộc hành Kim,
chủ phương Tây, dương khí của trời đất đã giáng xuống, âm khí đã
thăng lên bắt đầu hiu hắt, nhân khí thịnh ở phế vì phế thuộc
phương Tây hành Kim.
Tháng chín tháng mười là tháng Tuất, Hợi thuộc hành thủy,
âm khí bắt đầu đóng băng, địa khí bắt đầu bế tàng, nhân khí thịnh
ở tâm là dương khí đi vào tạng.
Tháng một tháng chạp là tháng Tý, Sửu thuộc hành thủy, chủ
về phương Bắc, nước đã đóng thành băng, địa khí đã hợp, nhân
khí thịnh ở thận vì thận thuộc phương Bắc hành Thủy.
Các mạch đều thuộc mắt. (Mạch là nơi chứa huyết, trông lâu
làm hại huyết chứng minh mọi mạch đều thuộc mắt).
Các chất tủy đều thuộc não. (Não là nơi chứa tủy, cho nên
tủy thông lên não).
Các gân đều thuộc khớp xương. (Cân khí bám chặt đều nhau
ở khoảng khớp xương).
Tất cả huyết đều thuộc về tâm. (Huyết ở trong mạch, thuộc
tâm, khí huyết là thần của người, nhưng thần là chủ của tâm, vì
thế nói là tất cả huyết đều thuộc tâm).
Tất cả khí đều thuộc phế. (Vì phế chủ khí).
Cho nên khi người nằm ngủ thì huyết chạy về can. (Can tàng
huyết, tâm vận hành huyết. Động thì huyết vận hành ra các kinh,
khi người nằm ngủ thì nó chạy về can vì can tàng huyết).
Can nhờ có huyết mà mắt trông được. (Đây là nói về công
dụng của huyết, mắt là nơi khai khiếu của can, cho nên can nhờ
huyết mà mắt trông được).
Chân nhờ có huyết mà đi được. (Khí hành thì huyết thông
hành, cho nên chân nhờ huyết mà đi được).
Bàn tay nhờ huyết mà cầm nắm được, ngón tay nhờ huyết
mà vận dụng được. (Đó là nói về công năng của ngón tay để cầm
nắm các vật. Khí huyết là thần của con người, cho nên ngón tay
nhờ có huyết mà vận dụng được).
Đồ ăn vào dạ dày, trọc khí chạy về tâm, thấm nhuần tưới bón
chất tinh vi sang mạch. (Trọc khí tức là cốc khí, vì tâm ở trên vị
cho nên cốc khí bốc lên tâm, vì tâm chủ huyết mạch cho nên chất
tinh vi tràn sang mạch).
Mạch khí lưu thông ra các đường kinh, kinh khí ở các đường
kinh đi lên phế, khí các mạch đều hướng về phế rồi vận chuyển
chất tinh vi ra tới lông da. (Mạch khí chạy về 6 đường kinh, kinh
khí dồn về phế, phế như cái ô (dù), bộ vị ở trên cao, sự điều tiết
xuất xứ từ đó, cho nên các mạch đều hướng về phế rồi thì phân bố
chất tinh vi ra tới da lông).
Mao mạch tụ hợp với tinh khí, vận hành ở phủ. (Phủ đây là cái
bể tụ hội khí (khí hải) ở khoảng giữa hai vú, cũng gọi là Đản
trung).
Tinh khí ở khí hải được linh hoạt tươi sáng thì lưu thông ra 4
tạng, sự phân bố của tinh khí cần được thăng bằng. (Khí ở Đản
trung phân bố ra làm ba đường, đường dưới đi vào Khí nhai, đường
trên đi lên Tức đạo, tông khí lưu thông đến nơi tụ hội ở ngực, gọi là
Khí hải. Phân hóa như vậy thì bốn tạng được yên ổn, tam tiêu
được quân bình, trên dưới trong ngoài đều được yên vị).
Sự thăng bằng của tinh khí phân bố được quân bình thì mạch
sẽ thể hiện ra ở Khí khẩu tức là bộ Thốn, để quyết đoán sự sống
chết. (Cách xem mạch xưa nay đều lấy 3 thốn chia làm ba bộ
Thốn, Quan, Xích. Cho nên các bộ phận trong ngoài trên dưới là
đầu mối của khí được quân bình thì mạch sẽ biểu hiện ra ở Khí
khẩu tức là bộ Thốn. Khí khẩu là nơi rất trọng yếu, hết thảy các
mạch đều tụ hội ở đấy, cho nên dựa theo đó mà quyết đoán sự
sống chết).
Đồ uống vào dạ dày tinh khí của nó chuyển vận phân bố lên
tỳ. (Nước uống vào, chảy xuống trung tiêu, hóa ra chất tinh vi, bốc
lên thành mây mù ở trên, mây mù ấy biến hóa và phân bố sang
tỳ, hơi nước ở thượng tiêu như sương mù, ở trung tiêu như bọt
nước).
Tỳ khí khuếch tán chất tinh vi ấy chuyển lên phế, thông lưu
đường thủy, chuyển vận xuống bàng quang. (Thủy thổ cùng hóa
hợp nhau, tư nhuận lên phế kim, thông với thận cho nên điều hòa
đường thủy, chuyển dồn xuống hạ tiêu thì bàng quang nhận lấy
mà chuyển hóa làm thành nước tiểu, như ngòi lạch tức là nghĩa
chỗ này).
Chất tinh vi của thủy dịch phân bố ra khắp nơi, vận hành ra
khắp kinh mạch, phải phù hợp với âm dương của ngũ tạng, khí
hậu của bốn mùa thì mới bình thường được. (Chất tinh vi của thủy
dịch phân bố ra, kinh khí vận hành làm cho gân xương cứng cáp,
khí huyết lưu thông, phối hợp với khí nóng khí lạnh của bốn mùa,
hợp với chứng âm dương của ngũ tạng, san bớt những cái thừa
thãi làm cho thăng bằng đúng với quy luật bình thường).
Trời ấm, ngày sáng thì huyết của người vận hành được trơn
tru và vệ khí bốc ra ngoài cho nên huyết dễ tả ra, khí dễ lưu hành.
Trời rét, ngày âm u thì huyết của người ngưng đọng mà vệ khí
chìm vào trong. (Ngưng đọng ý nghĩa như tuyết để ở trong nước).
Đầu tháng trăng mới lưỡi liềm thì khí huyết người ta lưu
thông, vệ khí bắt đầu vận hành; Khi trăng tròn, khí huyết đầy dẫy,
bắp thịt rắn chắc; Khi trăng khuyết thì bắp thịt sút kém, kinh lạc
rỗng, vệ khí suy, chỉ còn có hình thể, cho nên phải dựa vào thiên
thời để điều hòa khí huyết.
Bát chính là để xem các thứ gió trái thường của tám phương
theo thời tiết mà đến. (Bát chính là chính khí của 8 tiết, 8 thứ gió
là: “Anh nhi phong” từ phương Đông, “Đại nhược phong” từ
phương Nam, “Cương phong” từ phương Tây, “Đại cương phong”
từ phương Bắc. “Hung phong” từ phương Đông Bắc, “Nhược
phong” từ phương Đông Nam, “Mưu phong” từ phương Tây Nam,
“Chiết phong” từ phương Tây Bắc. Hư tà là nhân lúc chính khí bên
trong hư yếu mà nó lấn vào gây nên bệnh. Theo thời tiết mà đến
là ứng với ngày sao Thái nhất [50] rồi sang cung khác, tùy theo
gió thổi vào cung giữa trước hay sau mà có biến đổi).
Xem bốn mùa là để phân biệt khí mùa xuân, hạ, thu, đông ở
vào chỗ nào để tùy mùa mà điều dưỡng làm cho hư tà của tám
phương có thể tránh khỏi mà không phạm phải. (Khí sở tại của
bốn mùa là: Xuân khí ở kinh mạch, Hạ khí ở kinh lạc, Thu khí ở bì
phu, Đông khí ở xương tủy. Cảm nhiễm phải hư tà thì tổn thương
đến chân khí. Nếu tránh được mà không phạm phải thì không mắc
bệnh. Thánh nhân xa lánh hư tà như xa lánh làn tên mũi đạn vì nó
có thể làm tổn thương đến chân khí).
Tại sao tỳ không làm chủ riêng một mùa nào? (Can chủ mùa
xuân, Tâm chủ mùa hạ, Phế chủ mùa thu, Thận chủ mùa đông,
bốn tạng đều có chính khí mà tỳ không có chính khí).
Tỳ theo ngũ hành là thuộc thổ, phương vị ở trung ương. Nó
dựa vào trong bốn mùa mà chủ về bốn tạng, mỗi mùa chỉ vượng
có 18 ngày mà không chủ riêng về một mùa nào. Bởi vì công dụng
thông thường của tỳ là chuyển vận chất tinh ba của cơm nước
trong dạ dày; Mà sở dĩ nói thổ, ý nghĩa là nói thổ sinh vạn vật, ví
cũng như trời đất vun bồi cho tất cả các loài sinh vật không khi
nào thiếu. Cho nên nói từ trên đến dưới, từ đầu đến chân chuyển
vận chất tinh ba của cơm nước đến các bộ phận trong toàn thân
mà không thể chỉ riêng một mùa tiết nào.
Túc Thái âm tỳ kinh tức là tam âm, kinh mạch ấy thông suốt ở
vị, liên thuộc về tỳ, vòng quanh cổ họng. Cho nên kinh mạch này
có thể đem tinh ba của cơm nước ở trong vị chuyển vận đến 3
kinh âm. Túc Dương minh vị kinh là phần ngoài của túc Thái âm tỳ
kinh, là căn cứ cung cấp và dinh dưỡng cho ngũ tạng lục phủ. Cho
nên vị kinh cũng có thể đem khí Thái âm mà chuyển đến 3 kinh
dương ở chân và tay.
Thiên khí bất túc về phía Tây Bắc, khí trời bên tả lạnh mà bên
hữu mát. Địa khí bất mãn về phía Đông Nam, khí đất bên hữu
nóng mà bên tả ấm. Tại sao vậy? Khí dương minh là địa lý cao
thấp to nhỏ khác nhau. (Cao thấp là nói về địa hình, to nhỏ là nói
về khí âm dương thịnh suy khác nhau. Địa hình ở đồng bằng thì
phía Tây Bắc cao, phía Đông Nam thấp. Phương Tây mát, phương
Bắc lạnh, phương Đông ấm, phương Nam nóng).
Phương Đông Nam thuộc dương, dương tinh giáng xuống dưới
cho nên phía bên hữu nóng mà phía bên tả ấm. (Dương tinh giáng
xuống dưới cho nên địa khí nhân đó mà điều hòa ở dưới. Dương
khí sinh ở phương Đông mà thịnh ở phương Nam, cho nên phương
Đông ấm mà phương Nam nóng, khí trời phương nào nhiều
phương nào ít đã rõ ràng).
Phương Tây Bắc thuộc âm, âm tinh dâng lên trên, cho nên
phía bên tả lạnh mà phía bên hữu mát. (Âm tinh dâng lên trên cho
nên thiên khí nhân đó lạnh mà điều hòa ở trên, âm khí sinh ra ở
phương Tây mà thịnh ở phương Bắc, cho nên phương Tây mát,
phương Bắc lạnh).
Bởi thế đất có cao thấp, khí có ấm mát, cao thì khí lạnh, thấp
thì khí nóng. (Thiên Lục nguyên chính kỷ đại luận sách Tố Vấn nói:
“Chỗ rất cao thường có khí mùa Đông, chỗ rất thấp thường có khí
mùa Xuân”).
Âm tinh dâng lên làm cho người ta sống lâu, dương tinh giáng
xuống làm cho người ta chết yểu. (Chỗ cao âm tinh dâng lên, chỗ
thấp dương tinh giáng xuống. Chỗ cao của âm phương thì dương
khí không phát tiết bừa bãi, khí hàn giữ bên ngoài nên thường
không bị trúng tà khí, chính khí giữ vững được cho nên sống lâu.
Chỗ cao của dương phương, dương khí tán loạn, phát tiết không
có chừng mực, thường trúng phải phong thấp, chân khí kiệt quá
nên chết yểu. Ngay ở vùng đồng bằng, người phương Tây Bắc
phần nhiều sống lâu, người phương Đông Nam thường là chết yểu.
Trong đó nơi nào cũng còn có phân biệt hơn kém).
Khí của Tây Bắc gây bệnh, phải phát tán và làm cho mát đi,
khí của Đông Nam gây bệnh phải thu liễm lại và gây ôn ấm lên,
cho nên cùng một bệnh mà cách chữa khác nhau. (Người Tây Bắc
da dẻ khít, lỗ chân lông kín, mọi người đều ăn đồ nóng cho nên
dùng phép tán hàn. Người Đông Nam da dẻ thưa, lỗ chân lông hở,
mọi người đều ăn đồ lạnh cho nên dùng phép thu phép ôn. Tán là
tắm nước nóng để làm cho trong ngoài điều đạt, thu là làm cho
ấm bên trong không phải giải tà bên ngoài).
Căn bản bên trong gọi là thần cơ [51], thần mất thì cơ năng
sinh hóa đình chỉ. Căn bản bên ngoài gọi là khí lập[52], khí ngừng
thì cơ chế sinh hóa tuyệt. (Phàm cái gì bẩm thụ ở trời thì lấy thần
làm chủ, bẩm thụ ở đất thì lấy khí làm chủ. Tất cả các loại hữu
hình thì nguồn sống căn bản ở trong đều liên hệ với thiên khí, sự
vận động của nó đều do thần khí mà phát sinh, sự tác động của
nó thì khó mà biết được, cho nên thần mất thì cơ năng hoạt động
sẽ bị đình chỉ. Lại như căn bản của sinh khí là từ trong hình thể mà
phát sinh, cho nên gọi những thứ mà căn bản ở ngoài thì nguồn
sống liên hệ với địa khí. Cho nên cái lẽ sinh, trưởng, hóa, thu, tàng
của nó đều là nhờ vào khí của tự nhiên giới thì nguyên nhân cấu
tạo nên đó cũng khó mà biết được, cho nên khí mà bế tắc thì sự
sinh thành cũng bị tiêu diệt, tuy thường tính của mộc, hỏa, thổ,
kim, thủy là nhu, táo, thấp, kiên, dịch [53] không thay đổi, song
đến lúc mà ngoại vật mất, sinh khí lìa, nguồn gốc sự sinh hóa
tuyệt thì hình thể tính chất và nhan sắc bình thường của nó đều bị
biến dị cả).
Bắt đầu thụ khí rồi mới hóa sinh, khí khuếch tán ra mới thành
hình thể, khí phân bố ra mới có sự nuôi dưỡng phồn thịnh, khí
tuyệt thì sự vật sự biến đổi. (Khí bắt đầu động rồi mới sinh hóa, khí
khuếch tán ra mới có hình thể, khí phân hóa rồi mới có kết thành,
khí tột cùng thì vạn vật biến đổi).
Khí phản nhau thì bệnh ở trên chữa ở dưới, bệnh ở dưới chữa
ở trên, bệnh ở giữa chữa hai bên. (Chữa ở dưới là quyết lạnh ở
dưới mà nhiệt công ở trên, phần dưới không thông lợi, khí đầy lấp
ở trên, thì làm cho ấm ở dưới để điều hòa. Chữa trên là hàn tích ở
dưới thì làm cho ấm ở dưới chứ đừng khu hàn, vì tạng dương bất
túc thì phải bổ dương. Chữa hai bên là khí tụ bên phải thì chườm
bên trái, tụ bên trái thì chườm bên phải là để điều hòa).
Số của trời đất bắt đầu ở thiên khí mà tận cùng ở địa khí, 6
tháng đầu năm thiên khí làm chủ, 6 tháng cuối năm địa khí làm
chủ (Nửa năm lấy ngày lập thu làm ranh giới).
Thiên khí và địa khí trên dưới giao nhau do khí giao làm chủ,
quy luật khí hóa trong năm đều ở cả trong đó. (Thiên khí địa khí
trên dưới giao nhau thì khoảng giữa khí thứ 3 thứ 4 tức là khí giao
của trời đất làm chủ, như thế là hết một năm).
Khí mùa xuân đi từ phương Đông về phương Tây, khí mùa hè
đi từ phương Nam về phương Bắc, khí mùa thu đi từ phương Tây
về phương Đông, khí mùa đông đi từ phương Bắc về phương Nam.
(Xét về vạn vật sinh, trưởng, hóa, thu, tàng thì đúng như câu này).
Cho nên khí mùa xuân bắt đầu từ dưới đi lên, khí mùa thu bắt
đầu từ trên đi xuống, khí mùa hè bắt đầu từ giữa đi ra, khí mùa
đông bắt đầu từ ngoài vào trong. Khí mùa xuân bắt đầu từ phía
trái, khí mùa thu bắt đầu từ phía phải, khí mùa đông bắt đầu từ
phía bắc, khí mùa hè bắt đầu từ phía nam. Đó là quy luật khí hóa
bình thường của bốn mùa. (Xem xét sự vật để chứng minh thì có
thể biết được).
Cho nên chỗ rất cao thường có khí mùa đông, chỗ rất thấp
thường có khí mùa xuân. (Trên đỉnh núi cao nói về mùa hè viêm
nhiệt thường có băng tuyết chảy xuống sông ngòi, mùa đông giá
rét thường có cỏ mọc là đủ chứng minh ý nghĩa trên. Khí mùa
xuân hạ vốn chủ về phương Nam mà lại giáng xuống về phương
Tây Bắc. Khí mùa thu đông vốn chủ về phương Tây Bắc mà lại đi
lên về phía Đông Nam. Cho nên khí mùa xuân do khí đã giáng
xuống từ năm trước mà dâng lên, khí mùa thu do khí đã thăng lên
trong năm nay mà giáng xuống, khí mùa hạ do khí giữa chừng của
năm nay mà thăng lên, cần phải xét kỹ).
Khí trời đất ôn hòa thì nước sông yên tĩnh, khí trời đất giá
lạnh thì nước sông đông đặc, khí trời đất nóng bức thì nước bốc
hơi lan tràn, gió dữ thổi lên thì nước sông nổi sóng. Tà vào kinh
mạch, lạnh thì huyết ngưng đọng, nóng thì khí huyết trơn tru
thông lợi, cho nên hư tà xâm lấn vào cũng như nước sông gặp gió
dữ.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading