Chương 8: Cách thực phiên Vị (Buồn nôn sau khi ăn)

CHƯƠNG VIII

Buồn nôn sau khi ăn.

CÁCH THỰC PHIÊN – VỊ

隔食病津液乾(Cách-thực bịnh, tân dịch cản) Bịnh Cách-thực, do tân dịch khô.

Trong phương thơ gọi cách là chứng bịnh ở trên ngực ngăn cách, lại nói cách là ăn đồ không xuống mà ứ cách. Tán dịch khô ấy là nguồn gốc của bịnh cách-thực.

胃脘閉穀食雞 (Vị quân bế, cốc thực nan) Miệng bao tử đóng lại, thời món ăn khó xuống.

Khi vị quản khô thì rút nhỏ lại, uống nước thì thông được, mà đồ ăn khó xuống được.

時腎法左歸餐(Thời Hiền pháp, Tả-Qui xan) Phép của bậc hiền, cho uống Tả-Qui Am.

Ông Triệu Dưỡng-Quỳ dùng đại tề Lục-Vị Thang làm gốc, ông Cao-Co-Phong cũng phỏng theo phép của ông Triệu Dưỡng-Quỷ tức là bài Lục – Vị gia Sanh-Địa, Đương Qui làm chủ. Còn ông Dương-Thừa – Lục dùng bài Tả-Qui Âm bỏ Phục Linh gia Đương-Qui, Sanh-Địa. Cho là trong bài Tả. Qui Âm có vị Cam Thảo dẫn vào Dương-Minh khai triền vị âm, bót Phục Linh là đề phòng nước tràng vào khâm (thận) chỉ bằng chỉ chuyên lo về Dương-Minh còn < ông hiệu mau chóng hơn.

胃陰展賁門寬(Vi âm triền, bí môn khoan) Vị âm mở, bí môn rộng.

Như cao như mở chứa đọng ở dưới đáy vị tức là vị âm vậy. Những người bị chứng cách lâu ngày thì vị âm mất ông Cao Cổ-Phong nói rằng : « Trị chứng cách chỉ trị ở Dương Minh là đủ. » Dương-Minh tức là vị. Bởi vì vị âm đầy thì của bí môn ở trên mở rộng đồ ăn mới vào được, cửa U-Môn, Lan-Môn có nhuận ướt thì nhị tiện mới thông mà chứng cách mới hết.

啟膈飲理一般(Khải cách ẩm, lý nhứt ban) Bài Khải-Cách lý cũng vậy,

Bài Khải-Cách Âm cũng là ý hòa vị, dưỡng âm. Nhưng phương nầy làm tiết khí uất của phế, phương kia đề cứu thận thủy bị khô ráo, một đàng âm, một đàng dương nên chọn mà dùng.

推至理衝脈干(Xuy chí lý, xung mạch can). Xuy cho tới lẻ, là bởi xung mạch can lên.

Ông Trương – Thạch – Ngoan nói rằng : « ở nơi cách yết mà khí giao thông không xuống được là bởi xung mạch đưa lên, cho nên làm ra khí nghịch.

大半夏加蜜安(Đại Bán Hạ, gia Mật an) Thang Đại-Bán-Hạ, thêm Mật vào uống.

Xung mạch không trị mà chỉ giữ lấy dương-minh. Cụ Trọng Cảnh dùng Bán Hạ đề chận nghịch khí của xung- mạch xuống, dùng Nhân Sâm đề sanh Tân-dịch đã mất, dùng ngọt cho nhuận thủy đề đề cái nước đưa ngược lên, những phương của bậc thánh đề lại. Duy có cụ Trọng- Cảnh biết dùng.

金匱秘仔細看(Kim-Qui bí, tử tế khan) Bí quyết của bộ Kim – Quỉ, phải xem thật kỷ.

Bí quyết của bộ Kim-Quỉ nói rỏ cách dùng Bán-Ha rất rõ ràng, đến đời sau các nhà làm thuốc thấy Bán-Hạ là sợ không dùng. Bỏ cả thuyết của thánh-nhơn. Người nào xướng khởi ra thật là đáng ghét.

若反冒寶可嘆(Nhược Phiên-vị, thực khả than) Nếu mà phiên vị, thật đáng than.

Ăn vào một hồi lâu lại ói trở ra ấy gọi là phiên-vị.

朝暮吐分別看(Triêu mộ thổ, phân biệt khan)

Sớm hay chiều thổ, phải chia ra mà trị.

Sáng ăn chiều mữa, chiều ăn sáng mữa, ấy chứng là cách thực nên phân biệt cho rõ mà trị

乏火化屬虛寒(Phạp hỏa hóa, thuộc hư hàn) Thiếu chất lửa hóa, thuộc hư hàn.

Ông Vương-Thái Bộc nói rằng : « Ăn không vô được là có hỏa, ăn vô rồi lại thở ra là không có hỏa. » Chứng nầy thuộc trung tiêu, hạ tiêu, hỏa suy không còn nghi ngờ gì nữa,

吳茱飲獨附丸 (Ngô-Thù Am, Độc-Phụ Hoàn) Uống thang Ngô Thù-Du hay Độc-Phụ Hoàn.

Cái hay của thang nầy là vị Ngô Thù trấn đề nghịch khí của kinh quyết-âm, cho vị cam ôn vào, khiến cho Chấn (phong) Khôn (thổ) hợp đức thời thổ mộc không hại nhau.

六君額俱神丹(Lục-Quân Loại, cấu thần đơn) Thang Lục-Quân đều là thuốc thần.

Như những loại Lục-Quân-Tử thang gia khương, Phụ và thang Phụ Tử Lý-Trung.

BÀI THUỐC LOẠI CÁCH THỰC PHIỀN VI

Tả-Qui Âm. (Cảnh-Nhạc) Tức là thang Lục-Vi bớt Đơn-Bì, Trạch-Tả gia Câu-Kỹ, Chích-Thảo.

Khải Cách Âm. Trị chứng ăn vô thồ ra liền.

川貝母 Xuyên-Bối-Mầu

1 chỉ 5

Sa-Sâm

3 chỉ

丹參 Đơn-Sâm

2 chỉ

Tulip Uất Kim

5 phân

Chihti

Càn Hà-Đế

5 cái

Sha Rensi

Sa-Nhơn Sác

4 phân

Cám chày ·

Đậu-Khang

3 chỉ

Poria Phục-Linh

1 chỉ 5

cục đá,

昌蒲 Thạch-Xương-Bồ

4 phân

Sắc hai chén còn một chén uống.

Đại Bán-Hạ Thang. Trị vị phiên.

人参 Nhơn-Sâm

2 chỉ

Pinellia ternata

Bán-Hạ

4 chỉ

Bán-Hạ ngâm nước gừng hai ngày, mỗi ngày thay một lần rồi ngâm nước 3 ngày, mỗi ngày thay một lần, dem ra chưng chín xắt miếng phơi khô, dùng trường lưu thủy với mật sắc uống.

Sắc hai chén rưởi còn 7 phân uống.

Ngô Thù-Du Thang. (Xem chương tâm phúc thống)

Lục-Quân-Tủ Thang. Phương nầy bồ tỷ, kiện vì trừ đàm, ăn nhiều. Trăm bịnh có thể dùng bài thu công. Q

trắng

KHÔNG

Nhơn-Sâm

Bạch-Truật (sao)

2 chỉ

2 chỉ

Poria

Phục-Linh

bánh mì kẹp thịt

2 chỉ

Một nửa

trang

Bán-Hà

8,84

2 chỉ

1 chỉ

5 vỏ quýt lông

Trần-Bi

Chích-Thảo

Khi MAP

1 chỉ

vẻ đẹp khỏe mạnh

Gừng Sống

5 lát

dasu

Đại-Táo

2 trái

Phụ-Tử Lý-Trung Thang. Trị phiên-vị tức là bài Lý-Trung gia thêm Phụ Tử. Trị phiên vị nên gia thêm Phục Linh 4 chỉ, Cam-Thảo bớt đi nửa.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading