Chứng Thử (Trúng nắng)

Thứ Chứng thư 13

傷暑病動靜商 Thương thử bệnh, động tĩnh thương (bệnh thương thử (trúng nắng) phải phân động trúng hay tỉnh trúng)

Mùa Hạ bị trúng nắng phải biết phân ra động trúng hay tĩnh trúng là do ở thuyết của Ông Đông-Viên.

動而得熱為殃 Động nhi đắc, nhiệt vì ương.

(Động mà trúng, làm nóng dữ)

Nếu mà đi đường xa bị trúng nắng thì mình nóng như lửa đốt, mặt xần xượng, mình co rút lại, miệng khát nước, mạch hồng mà yếu.

六一散白虎湯Lục-nhất-tán, bạch hồ thang. (uống bài lục-nhất-tán hay thang bạch-hồ)

Bài lục-nhất tán trị các chứng trúng thữ, thang bạch- hồ gia nhân sâm là vì ra mồ hôi nhiều sợ rằng hơi nắng làm thương nguyên khí, còn gia thương truật là bởi mình nóng chân lạnh tức là hơi nắng làm ra nóng.

靜而得起貪凉Tĩnh nhi đắc, khởi tham lương. (Tĩnh mà trúng, do ở ham ngồi bóng mát)

Ở trong nhà rộng lớn mà sợ nắng ham ngồi những nơi bóng mát thì bị khí nắng âm thành bệnh.

惡寒象熱逾常Ő hàn tượng, nhiệt du thường. (Hơi ơn ớn sợ lạnh, thì nóng lại càng nhiều)

Chứng sợ lạnh tựa như chứng thương hàn, duy có nóng lại nhiều hơn chứng thương-hàn.

心煩料切莫忘 Tâm phiền biện, thiết mạc vong. (Trong bụng buồn bực là trúng thử, phải nhớ đừng quên)

Tuy rằng tựa như chứng thương hàn, nhưng khác ở cái: trong bụng buồn bực, hơn nữa chứng thương hàn thì mạch thịnh mà chứng thương thử thì mạch hư.

香需飲有專長 Hương – nhu ẩm, hữu chuyên trường. (Bài hương-nhu ấm là chuyên trị chứng trúng thử).

Bài hương-nhu ầm phát hãn lợi thủy là bài thuốc chuyên trị về chứng trúng thử, gặp mùa hạ mà không dùng bài hương nhu ẩm thì còn dùng vào mùa nào nữa ?

大順散從證方 Đại thuận tán, tòng chứng phương. (Còn bài đại thuận tán, theo chứng bệnh mà trị).

Bài đại thuận tán này chữa về gặp trời nắng do sợ nóng ưa mát mà thành bệnh, chớ không phải trị chứng trúng thử, bài này là không kề thời tiết chỉ theo chứng mà trị.

生脈散久服康 Sanh-mạch tản, cửu-phục- khang. (Bài sanh-mạch-tán, thường uống thì tốt).

Bài sanh-mạch tán là phương thuốc thường uống, chớ không phải phương thuốc trị bệnh.

東垣法防氣傷 Đông-viên pháp, phòng khi thương. (Phép của Ông Đông-Viên, phải phòng thương khí).

Trời nắng thì hay thương nguyên khí cho nên uống thuốc cần phải bồ, đó là phương pháp của Ông Đông- Viên cho nèa có thang thanh-thử ích-khí rất hay.

雜說走道弗彰 Tap-thuyết khởi, đạo phất chương. (Những tạp thuyết nêu ra, làm mờ mịt đạo thánh)

Những tạp thuyết ở trên nêu ra làm mờ tối đạo của. Tiền Thánh, những người hành đạo phải nên suy xét cho kỹ kẻo nữa lầm đường lạc lối.

若精蘊祖仲師 Nhược-tinh uần, tổ Trọng. Sư (Còn tỉnh túy nhiệm mầu, phải theo phép của đức Trọng- Sư mới đúng)

Thiên hình, thấp, yết ở Thương-hàn-luận Kim-quỹ yếu lược của đức Trọng-Cảnh chữ nào cũng tỉnh-vi mầu nhiệm.

太陽病旨在茲 Thái-dương bệnh, chỉ tại tư. (Bệnh thái dương, ý nghĩa cả ở đó)

Đức Trọng-Sư bảo là (Thái dương trúng yết) cứ hai chữ thái dương là ý nghĩa đầy đủ cả, vì người ta đều nhận là nhiệt tà cho nên nêu ra hai chữ thái dương đề kêu tỉnh: hàn thử đều là ngoại tà, trúng vào dương, mà dương-khí thạnh thì lạnh cũng thành nóng; trúng vào dương, mà dương-khí hư thì nóng cũng thành lạnh, còn trúng vào âm thì không phân hàn thử đều là âm chứng. Như đương lúc trời nắng nung nấu không có một chút hàu tà mà trái lại nhiều âm chứng. Nói tóm lại tà trúng vào người ta là tùy theo lục khí, ở trong người âm dương hư thục mà xoay vần biến hóa, chớ cũng không cứ thương hàn là âm, mà thương thử là dương vậy.

經脈辨標本歧 Kinh-mạch biện, tiêu bản kỳ (Coi kinh-mạch, biện rõ gốc ngọn)

Đức Trọng-Sư nói thái dương trúng yết phát nóng ấy là bệnh thái dương mà bị khí tiêu dương thành bệnh; sợ lạnh ấy là bệnh thái dương mà bị khí bản hàn thành bệnh; mình nặng mà đau nhức ấy là bệnh thái dương kinh thông khắp mình thành bệnh; mạch huyền, tế, khâu, trì, ấy là bệnh thái dương mạch thông khắp mình thành bệnh; tiều tiện rồi ơn ớn chân lông nổi gai ốc chân tay lạnh ấy là bệnh thái dương bị khí bản hàn không được khí dương nhiệt hóa thành bệnh; còn làm việc một chút thì nhọc mệt nóng nầy miệng hả ra răng khô ấy là bệnh thái dương bị tiêu dương hóa không được tân dịch của chân âm thấm- nhuần thành bệnh, đó là tiêu bản kinh mạch của bệnh thái- dương trúng yết là thế. Trị bệnh phải nên bồ tiêu bản, ìch kinh mạch mới trúng, nếu không biết mà cho phát hân hay hạ thì nguy lắm.

臨證辦法外思 Lâm chứng biện, pháp ngoại tư (Lâm chứng biện cho rõ, ngoài phương pháp lựa mà trị)

Như ý tôi: mượn thang ma-hạnh thạch-cam đề trị ngoại chứng về trúng thử, đầu nhức, mồ hôi ra, thở khò khè, miệng khát nước; mượn thang hoàng-liên a-giao kê- tử-hoàng đề trị nội chứng về trúng thử, trong bụng buồn bực nằm không được. Còn những thang: sài hồ, chi-tứ, thừa khí đều có thể lựa chọn mà dùng. Đức Trọng-Sư nói : khát nước thì cho uống thang chư-linh, lại nói nhiệt ứ ở trong thì dùng thang ma-liên biển đậu cho uống đề

nuôi âm lợi thấp theo tiều tiện mà ra, đó là phép ngoại

pháp lựa chọn mà dùng khéo léo ở mình vậy.

方雨出大神奇 Phương lưỡng-xuất, đại thần kỳ (Hai phương ra, rất là thần hiệu)

Nắng trúng người ta là theo âm-dương, hư, thực ở trong mình người ta mà biến hóa vẫn chuyển, như người dương tạng nhiều hỏa thì nắng ngụ ở trong hỏa mà làm ra bệnh đồ mồ hôi mà buồn bực khát nước, đức Trọng- Sư có thang bach-hồ gia nhân-xâm để trị; như người âm tạng nhiều thấp, thì nắng núp ở trong thấp mà làm ra bệnh mình nóng đau nhức nặng nề, mạch hơi yếu, đức Trọng-Sư cho rằng bởi mùa hạ bị thương lãnh thủy, thủy ở ngoài da mà thành bệnh, cho nên trị bệnh phải trị về thấp chỉ dùng thang một vị qua đế cho uống khiến cho (thủy) đi thì (thấp) không có nơi nương tựa mà cũng phải đi vậy.

NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRỊ VỀ THỬ CHỨNG

Lục nhất tán: trị những bệnh trúng thử

bột talc

Hoạt-thạch

6 lạng

cam thảo

Cam-thảo

1 lạng

Hai vị tán cho nhỏ, mỗi lần uống 3 chỉ với nước trà hay nước nóng.

Bạch hồ thang; trị về chứng thương-thử khát nhiều, ra mồ hôi nhiều phương thuốc ở trong mục thương hàn, gia- nhơn-sâm là vì hơi nắng làm thương nguyên-khí; gia thương truật trị chứng mình nóng, chân lạnh vì hơi nắng có thấp khi ở trong.

Hương-nhu ầm: trị về chứng thương thử mình đau phát nóng, lưỡi khô, miệng ráo và thổ tả.

Nhu cầu về nước hoa

Hương-nhu

4ch

Magnolia officinalis

Hậu phác

1,5ch

đậu lăng

Biền-đậu

2ch

cam thảo

Cam-thảo

1ch

đồ 2 chén nước sắc còn 8 phân uống nóng hay lạnh cũng được.

Nếu tả lỵ gia phục-linh và bạch truật, ói mửa gia bán

hạ, hơi nắng làm co rút gia khương-hoạt tần-giao.

Đại thuận tán: trị về bệnh âm-thử sợ nóng mà ham nơi mát.

Cân-khương

hạnh nhân

Hạnh-nhơn

cam thảo

Cam-thảo

quế

Nhục-quế

1,5ch

6 phân

8 phân

6 phân

đồ một chén nước sắc còn 7 phân uống, hay tán chung mỗi lần uống 3 chỉ với nước.

Sanh-mạch tán là phương thuốc trị về trúng thử rất hay.

Nhân sâm

Nhân sâm

năm hương vị

Ngũ-vị

Ophiopogon japonicus

Mạch-đông

đồ 1 chén rưởi nước sắc còn 7 phân uống

Thanh-thử-ích-khí thang (Đông-Viên)

1ch

1ch

3ch

stilbene chữa bệnh

Chích-kỳ

1,5ch

Atractylodes

Bạch truật

5 phân

da xanh

Thanh-bì

5 phân

Ophiopogon japonicus

Mạch-đông

5 phân

Nút chai

Hoàng-bá

5 phân

Zezuo

Trạch-tả

1ch

Nhân sâm

Nhân sâm

5 phân

aoi

Thương-truật

5 phân

vỏ quýt

Trần-bì

5 phân

Polyporus

Chư-linh

5 phân

Một trăm nghìn

Can-cát

1ch

Hài kịch thần thánh

Thần khúc

8 phân

năm hương vị

Ngũ-vị

5 phân

Cimicifuga

Thăng-ma

3 phân

to lớn

Đại-tảo

2 trái

chí cao

Chích-thảo

5 phân

sức khỏe Khương

Gừng sống

3 miếng

đồ 2 chén nước sắc còn 7 phân uống.

Nhất-vật qua đẽ thang:

bảo vệ

Qua-de

20 chiếc

đề 2 chén nước sắc còn 8 phân uống.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc