CHẨN ĐOÁN BỆNH UNG THƯ
Khám phá bệnh Ung Thư ở thời kỳ thứ nhất, nếu không lợi dụng phương pháp khoa học để giúp đỡ
thì Trung hay Tây y cũng đều cảm thấy khó khăn vì nơi người bệnh tuyệt nhiên không có chút đau đớn,
cũng không có hiện tượng gì. Dẫu cho phát sanh một nơi nào dạng có Bướu cũng chỉ là một trạng
chứng sơ sài, làm cho người bệnh không mảy may chướng ngại. Ví như Ung Thư ở Tử Cung đầu tiên
chỉ có Huyết Trắng và hơi đau bụng dưới rốn, hoặc mỗi khi ngồi cảm thấy Xương Chậu nặng nề, hoặc
hơi đau trong khi co giãn, người bệnh không để ý, lầm với một chứng khác, thường thấy rất nhiều. Hơn
nữa, nếu người tuổi hơi lớn, đến thời kỳ hết kinh mà lại có kinh trở lại, như thế phải nên chú ý. Nếu
người bệnh gặp phải những triệu chứng như trên thì phải mau mau đi tìm thầy thuốc chuyên về Ung
Thư, hầu khỏi lầm lạc đáng tiếc về sau.
Cách khám bệnh Ung Thư của Trung y áp dụng do kinh nghiệm sở đắc[14] có mấy pháp như: Vọng (xem
thần sắc), Văn (nghe âm thanh), Vấn (hỏi), Thiết (chẩn mạch), Xúc (sờ tìm)… Xem thần sắc người
bệnh, nghe tiếng nói người bệnh, hỏi tất cả triệu chứng ở người bệnh và chẩn mạch cùng với dùng tay
để sờ tìm, xem khối Ung Thư lớn nhỏ, hoặc mềm hay cứng để biết rõ đã bể miệng hay chưa. Về nhìn
xem thì đời nay có quang tuyến X thấu suốt và kính hiển vi cùng các pháp kiểm tra khác. Về phần nghe
khám thì có ống nghe mạch, gõ khám thì có dùi để gõ. Đối với sự khám xét thật là đầy đủ sự giúp đỡ.
Nhưng đối với pháp chẩn mạch của Trung y, sự thật vẫn còn là một pháp độc đáo. Như thế chớ nên bỏ
một bên mà theo một bên nào. Ở nước Mỹ có bác sĩ A. Effeca là một người rất có danh trong việc
nghiên cứu mạch lý Trung y. Ở Gia Châu có bác sĩ Nạc Tư cũng là danh y nghiên cứu về mạch lý Á
Đông. Nghiên cứu mạch học để phân tích khoa học hóa việc khám bệnh rất là có lợi ích. Ngoài ra như
Âu châu, Thụy Sĩ ở Đại học Tập Lý Khí có giáo sư Tư Đào Khắc cũng đã từng dùng phương pháp
chẩn mạch Trung y biết được những trường hợp bệnh trúng thực, v.v… Phép chẩn mạch của Trung y
nếu được sắp xếp theo hệ thống khoa học thì chúng ta có thể tin rằng biết đâu trên lãnh vực y học sử
nhân loại lại được thêm một màu sắc hoa thơm cỏ lạ? Tự nhiên Nhật báo có đăng một bài, tựa đề “Kỹ
thuật chẩn đoán của Trung y truyền sang Âu Châu, khoa học hóa về chẩn mạch” như sau:
“Căn cứ theo tình hình mạch nhịp, có thể biết được sao là bệnh Suyễn, sao là có chứng nhức đầu, sao
là nguyên nhân sanh ra bệnh Ruột, Tây y ngày nay phần đông đương nhiên không biết. Họ áp dụng bao
nhiêu dụng cụ khoa học để góp công vào. Đây có thể nói là sự nghiên cứu mới nhất của y học. Có thể
chứng minh cho hậu thiên tánh miễn dịch, bệnh suyễn, bệnh táo nóng trường kỳ, chứng nhức Đầu,
chứng sưng Ruột, sưng Cổ Họng, bón kinh niên,… Hết thảy đều có thể từ trong mạch, tức là khám phá
bệnh tình. Hầu hết người Mỹ không biết được chẩn mạch là một kỹ thuật trọng yếu trong việc khám phá
sức khỏe con người như ngày nay, chỉ dùng một ngón tay cái để lên cổ tay người bệnh nhẹ nhàng cũng
biết được mạnh nhảy thế nào là đúng trong vẻ bình thường.
Động cơ quan trọng là Tim, đó là trung tâm mạch động, bao nhiêu động mạch đều từ đó phân bố ra.
Theo đấy những gì hiện nơi mạch cổ tay đều có thể thuyết minh. Cách tổ chức động mạch và tạng Tim
là vì để đưa máu ra khắp toàn thân cho nên tình hình thay đổi trong máu như thế nào, tình trạng sức
khỏe toàn thân như thế nào, đều có thể căn cứ vào mạch động mà nghiệm biết được cả. Khi thầy thuốc
chẩn mạch theo Trung y có ba điểm họ cần phải chú ý:

  1. Trong mỗi phút mạch nhảy bao nhiêu nhịp?
  2. Mạch phải động như thế nào mới là bình thường?
  3. Mỗi cái mạch nhịp hình thức ra sao?
    Tinh vi nhất của Trung y là mạch học, là những phù hiệu thống kê được do trải qua kinh nghiệm sâu
    dầy của trên 4.000 năm chồng chất. Không những có thể khám biết được biểu, lý, hư, thiệt, hàn,nhiệt
    lại còn có thể quyết định được sống chết nữa. Cho nên Thiên Ngũ Duyệt, Ngũ Sử trong Linh Khu có
    nói: “Khí khẩu thành mạch để quyết tử sanh”. Câu nói ấy rất đúng, không có gì là ngoa. Người nào có
    chút kinh nghiệm năm chứng đều có năng lực phán đoán. Đó là một dấu hiệu tin cậy đặc biệt trong sự
    chẩn đoán của Trung y, mảy may không chút nghi ngờ.
    Trước hết, ta hãy bàn đến tác dụng sinh lý của mạch. Vì trái Tim có những bắp thịt ngăn Tim ra làm hai
    phần riêng hẳn không thông nhau, hai bên phòng trái phải như máy bơm nước. Nửa Tim bên phải bóp
    lại để đưa máu đen lên Phổi, đến mao tế quản ở Phổi, rồi lại theo tĩnh mạch máu đỏ trở về Tim bên
    trái. Nửa trái Tim bên trái bóp vào thì máu đỏ theo động mạch đẩy ra châu thân, ra đến tận cùng mao
    tế quản lại theo đường tĩnh mạch máu đen mà về Tim bên phải. Rồi từ bên phải lại đưa đi như trước,
    cứ như thế tuần hoàn không thôi. Ống máu từ trong Tim ra gọi là động mạch, ống động mạch lại phân
    ra nhánh nhóc, đến động mạch nhỏ lại chia thành vô số động mạch nhỏ nữa gọi là mao tế quản, cứ
    vòng quanh rồi trở lại như thế. Nội Kinh nói: “Phần dinh khí cứ thúc đẩy đi mãi không ngừng, đó là
    mạch”.
    Mạch tức là hiện tượng động mạch rõ ràng, ống mạch là để máu chảy thông qua tuần hoàn châu thân.
    Căn cứ trên kết quả của giải phẫu học thì động mạch ở cổ tay to bằng ống lông ngỗng, theo chiều cánh
    tay lần lên lần to, hợp cùng với đại động mạch thẳng vào quả Tim. Tim một lần bóp, tức là đẩy máu
    theo ống mạch ra. Ống động mạch co giãn theo nhịp đập của trái Tim gọi là mạch nhảy.
    Hình thức mạch động trên nam nữ, già trẻ, động tĩnh có tánh cách khác nhau. Trẻ con mới sanh mỗi
    phút mạch nhảy độ trên 120 nhịp. Từ 5 tuổi về sau xuống còn hơn 90 nhịp. Con trai đến tuổi thành
    nhân trung bình mạch nhảy 70 nhịp, con gái mạch nhảy có phần mau hơn con trai. Người già mau hơn
    người trẻ. Sau khi vận động hoặc ăn uống, hoặc khi tình cảm xung động, hoặc trong phòng kín thiếu
    dưỡng khí thì thường mạch nhảy gia tăng. Thầy thuốc căn cứ nơi đây xét mạch để phân biệt biết được
    sức đẩy máu của Tim là mạnh hay yếu và ống mạch teo hay nở, yếu hay mạnh, mềm hay cứng để phân
    biệt bệnh tật biến hóa trên sinh lý cũng như bệnh lý ra sao. Nội Kinh nói: “Mỗi thở ra mạch nhảy 2
    nhịp, mỗi hít vào mạch nhảy 2 nhịp gọi đó là mạch của người bình thường”. Người sức khỏe bình
    thường mỗi phút có 18 hơi thở ra vào, mỗi hơi thở mạch nhảy 4 nhịp, cộng lại đúng là 72 nhịp, học
    thuyết của Nội Kinh đã trải qua trên 4.000 năm đem so với Tây y ngày nay mỗi phút mạch nhảy 72
    nhịp, trong chỗ không hẹn mà đồng nhau. Theo đây mà xem, thì mạch học của Trung y đối với sinh lý
    bình thường, bệnh lý biến thái, trong lâm chứng có một kinh nghiệm chất chứa vô cùng phong phú mới
    có thể chẩn đoán xác thực như trên. Nay chúng tôi đem kho tàng mạch học quý báu ấy với những phù
    hiệu mạch tượng quan trọng mà phân thuật như sau đây: Phù, Trầm, Trì, Sác, Hưỡn, Khâu, Huyền,
    Cách, Lao, Nhụ, Nhược, Tán, Tế, Hượt, Sắc, Hư, Thiệt, Trường, Hồng, Vi, Khẩn, Phục, Động, Xúc,
    Kiết, Đợi.
  4. PHÙ (nổi):
    Kệ rằng:
    Phù như mộc thủy trung phù,
    Phù đại trung không nải thị khâu,
    Bách bách nhi phù thị hồng mạch,
    Lai thời tuy thạnh khứ nhu nhu.
    Phù mạch khinh bình tợ nẫm thông,
    Hư lai trì đại hoát nhiên không.
    Phù nhi nhu tế vi nhụ mạch,
    Tán tợ dương hoa vô định tông.
    Tạm dịch:
    Phù là nổi sát mặt da,
    Nổi to bọng ruột ấy là mạch Khâu,
    Mạch Hồng bồng bột nổi cao,
    Nhốm tay thấy mạnh đè vào kém thua.
    Phù là nổi chuẩn mặt da,
    Khâu là bộng rỗng, rõ ràng mạch Hư,
    Nổi mềm nhỏ nhụ không sai,
    Tán là tản mát trong ngoài không phân.
    Mạch Kinh có nói: “Nhớm tay thì dư, đè xuống hơi thiếu. Mạch phù là chỉ tỏ thuộc ở ngoài, đó là chỗ
    gọi bệnh ở biểu là hiện tượng cơ năng tự nhiên trong cơ thể chất chứa ra phần ngoài, để chống với độc
    bệnh. Phù là mạch nổi lên trên da vậy”.
  5. TRẦM (chìm):
    Trầm bang cân cốt tự điều quân,
    Phục tắc tô cân, trước cốt tầm.
    Trầm tế như miên, chơn nhược mạch,
    Huyền trường thiệt đại thị lao hình.
    Tạm dịch:
    Chìm là đè nặng thấy rõ ràng,
    Phục phải lách Gân tìm đến Xương,
    Chìm nhỏ rất mềm gọi là Nhược,
    Thẳng dài to chắc ấy Lao hình (mạch Lao).
    Vương Thúc Hòa có nói: “Nhớm tay lên thấy thiếu, nặng tay xuống thấp có dư”. Hoặc nói: “Đặt nhẹ
    tay vào thì không thấy, đè nặng xuống mới thấy”. Mạch Trầm nghĩa là mạch nhảy ở dưới bắp thịt, đều
    là hiện tượng ở trong, là chịu sức gom nhóm tự nhiên của cơ năng bên trong cơ thể để bài tiết sự trệ
    ngại bên trong, cho nên nhịp mạch thường hiện ra Trầm. Phàm những người đau lâu ngày nếu thấy
    mạch Trầm là phần có quan hệ đến sự suy nhược của thần kinh.
  6. TRÌ (chậm):
    Trì lai nhứt tức, chí duy tam,
    Dương bất thắng âm khí huyết hàn.
    Đản bả Phù Trầm phân biểu lý
    Tiêu âm in ích hỏa chi nguyên.
    Mạch lai tam chí hiệu vi trì,
    Tiểu sử ư trì tác Hưỡn trì.
    Trì tề nhi nan tri thị sắc.
    Phù nhi trì đại dĩ khuy suy.
    Tạm dịch:
    Hô hấp ba nhịp gọi là trì,
    Khí huyết hàn, hiện triệu dương suy,
    Cứ lấy Phù Trầm phân biểu lý (ngoài,trong)
    Tăng dương thêm lửa phải đúng thì.
    Mạch nhảy ba nhịp gọi là Trì,
    Thêm nhỏ mà lơi là Hưỡn Trì,
    Chậm nhỏ rít khó là mạch Sắc,
    Nổi thêm to chậm phải (để ý) là suy.
    Hượt Bá Nhân nói: “Trong một hơi thở mạch chỉ nhảy ba nhịp, tức là mạch Trì. Phàm người bệnh nhiệt
    độ xuống thấp máu chảy chậm nên hiện mạch Trì”.
  7. SÁC (mau):
    Sác mạch tức gian thường lục chí,
    Âm vi dương thạnh tất cuồng phiền.
    Phù trầm biểu hạ đa như thiệt,
    Duy hữu nhi đồng tác kiết khan.
    Sác tỉ bình nhân đa nhứt chí,
    Khẩn lai như sát thị đàn thằng.
    Sác nhi thời chỉ danh vi xúc,
    Sác kiến quan rung động mạch hình.
    Sác mạch vi dương nhiệt khả tri,
    Chỉ tướng quân tướng đại lai y,
    Thiệt nghi lương tả, hư nghi bổ,
    Phế bệnh thu thâm khước úy chi.
    Tạm dịch:
    Hô hấp sáu chí là mạch Sác,
    Âm Thiếu Dương thừa phải nóng cuồng.
    Nổi chìm hạn hạ tùy Hư Thiệt,
    Chỉ có nhi đồng mới bình thường.
    Sác là hơn thường thêm một chí,
    Nếu săn mà Sát là Khẩn thôi.
    Sác có khi ngừng là mạch Xúc,
    Sác hiện ở Quan, mạch động rồi.
    Mạch Sác biết rõ là dương nhiệt,
    Phải dùng thuốc mạnh để trị cho.
    Nếu Thiệt lương tả, Hư phải bổ,
    Bệnh Phổi mùa thu thấy đáng lo.
    Mạch Kinh nói: “Đến đi rút gấp, 1 hơi thở 6, 7 chí. Mạch Sác chủ về nhiệt. Phần nhiều là hiện tượng
    của chứng phát sốt hoặc nóng sưng ở chỗ nào, hoặc bởi hiện tượng thần kinh bị kích động.
  8. HƯỢT (trơn):
    Hượt mạch như châu tán tán nhiên,
    Vãng lai lưu lợi khước hoàn tiền.
    Mạc tương hượt sác vi đồng loại,
    Sác mạch duy khan chí số gian.
    Tạm dịch:
    Mạch hượt như chuỗi tiếp trôi qua,
    Xuống lên trôi chảy rất rõ mà.
    Đừng nên lầm lẫn Hượt với Sác,
    Sác là đếm nhịp chớ sai ngoa.
    Mạch Kinh nói: “Trôi chảy lưu thông rất trơn rõ, cùng với mạch Sác gần giống, ở phần phù như hữu
    lực”. Thiên Kinh nói: “Trôi qua chơn hượt hình như hạt ngọc chạy trên mâm, ứng dưới ngón tay thấy
    tròn Hượt”. Đàn bà nếu tắt kinh thấy mạch Hượt, tức là hiện tượng thọ thai.
  9. SẮC (rít):
    Tế trì đoản sát vãng lai nan,
    Tán chỉ y hi ứng chỉ gian.
    Như vỏ chim sa dung dị tán,
    Bệnh tằm thực diệp mạng nhi gian.
    Tam ngũ bất điều danh viết Sác,
    Khinh đao quát trúc đoản nhi nan,
    Trưng tợ diễu mang vi nhuyến thậm
    Phù trầm bất biệt hữu vô gian.
    Tạm dịch:
    Nhỏ chậm ngắn rít khó lại qua,
    Tan, ngừng phưởng phất phải nhận ra,
    Như mưa thấm cát thoạt tan mất,
    Bệnh tằm ăn lá dễ đâu mà!
    Ba, năm không chỉnh gọi là Sắc,
    Dao nhẹ cắt trúc rít khó khăn.
    Phưởng phất khôn phân nhỏ mềm quá,
    Nổi chìm không nhận giữa có không.
    Phàm người bệnh lâu mạch Nhược, mạch Sắc là hiện tượng thiếu máu, thiếu tân dịch, thần kinh suy
    nhược.
  10. HƯ (thiếu trống):
    Cử chi trì đại, án chi tùng,
    Mạch trạng vô nhai loại cốc không.
    Mạc bả khâu hư vi nhất lệ.
    Khâu lai phù đại thị từ thông.
    Tạm dịch:
    Nhớm lên thì có đè xuống thì không,
    Hư tượng rõ ràng phải phát minh,
    Đừng lẫn Khâu, Hư làm một loại,
    Khâu thì to nổi bộng như hành.
    Mạch Hư là huyết khí đều kém, thường thấy ở người bệnh lâu, ốm yếu nhiều hơn.
  11. THIỆT (thừa, đầy, đặc):
    Phù Trầm giai đắc đại nhi trường,
    Ứng chỉ vô hư bức bức cường,
    Nhiệt uẩn tam tiêu thành tráng hỏa,
    Thông trường phát hạn thỉ an khương.
    Tạm dịch:
    Xuống lên đều thấy rõ mà dài,
    Chạm ngón rõ ràng mạnh lắm thay.
    Nóng chứa Tam Tiêu thành lửa dữ,
    Thông Ruột phát hạn mới an bài.
    Nội Kinh nói: “Tà khí thạnh thì thiệt”. Đại phàm những bệnh truyền nhiễm ở giai đoạn bệnh thế đương
    tăng, rất dễ phát hiện mạch thiệt vì lúc đó là vi trùng bệnh cùng với máu tranh nhau.
  12. TRƯỜNG (dài):
    Quá ư bổn vị mạch danh trường,
    Huyền tắc phi nhiên đản mãn trưng.
    Huyền mạch dữ trường tranh giảo viễn,
    Lương công xích đô tự năng lương.
    Tạm dịch:
    Ba bộ nối tiếp gọi là trường,
    Huyền thì thẳng bén thấy rõ ràng.
    Huyền Trường hai thế không sao lẫn,
    Lâm chứng kinh nghiệm tự nhiên quen.
    Nội Kinh nói: “Mạch Trường thì phải trị ở phần khí”. Phàm những người động mạch biến cứng, hoặc
    phải chứng Não sung huyết, hoặc thần kinh khẩn trương, mạch Trường nếu kèm theo Hồng là hiện
    tượng động mạch giãn to, nếu Trường mà Hòa Hưỡn là hiện tượng mạnh khỏe. Nếu Trường mà Cứng
    Khẩn là có bệnh.
  13. ĐOẢN (ngắn):
    Lưỡng đầu túc túc danh vi đoản,
    Sắc đoản trì trì tế thả nan.
    Đoản sắc nhi đắc thu hỉ kiến,
    Tam xuân vi tặc hữu tà can.
    Tạm dịch:
    Án thấy ba đoạn gọi là Đoản,
    Sắc đoản chậm nhỏ thiệt khó phân,
    Đoản gặp thu là triệu tốt,
    Trong xuân thấy thế khắc tà can
    Hà Mông Giao nói: “Chiều dài không đầy đủ dưới ba ngón tay gọi là Đoản”. Nội Kinh nói: “Đoản tức
    là bệnh thuộc về khí, bởi tuần hoàn phát sanh chướng ngại, gây nên sự lấn áp mạch máu, làm thành
    hiện tượng mạch nhảy không lưu thông cho nên gọi là mạch Đoản.
  14. HỒNG (tràn, vun):
    Mạch lai hồng thạnh khứ hoàn suy,
    Mãn chỉ thao thao ứng hạ thì.
    Nhược tại xuân thu, đông ngoạt phận,
    Thăng dương tán hỏa mạc hồ nghi
    Tạm dịch:
    Nhớm lên tràn ngập đè xuống suy,
    Cuồn cuộn rõ ràng ứng Hạ (mùa Hạ) thời.
    Xuân Thu và Đông mà hiện thấy,
    Thăng dương tán hỏa chớ hồ nghi.
    Ngô Sơn Phủ nói: “Mạch to mà đẩy mạnh ngón tay đó là hiện tượng hùng dũng ba đào, như thế mới gọi
    là mạch Hồng. Hồng là mạch máu nổi to, mạch này thường hiện ra khi nhiệt độ lên cao”.
  15. VI (nhỏ, mềm):
    Vi mạch khinh vi miết miết hồ,
    Án chi dục tuyệt hữu như vô.
    Vi vi dương nhược, tế âm nhược,
    Tế tỉ ư vi lược giảo thô.
    Tạm dịch:
    Mơ hồ mềm nhỏ là vi,
    Để vào muốn mất, phải nghi cho tường.
    Mạch vi suy kém phần dương,
    Nhỏ hơn mạch tế, hai đường khác nhau.
    Mạch vi là hiện tượng thiếu máu, phàm bệnh kinh niên mới hiện mạch này.
  16. KHẨN (săn):
    Khẩn như chuyển sách thiết như thằng,
    Mạch tượng nhân chi đắc khẩn danh,
    Khẩn thị hàn tà lai tắc khẩu,
    Nội vi phúc thống, ngoại vi đông.
    Tạm dịch:
    Khẩn như dây đánh thật là săn,
    Mạch tượng theo đây đặt lấy tên.
    Tóm lại hàn tà cùng chánh chiến,
    Trong là đau bụng, ngoài đau xương.
    Khẩn là hiện tượng mạch máu co rút lại. Mạch Lý Cầu Chơn có nói: “Mạch nhiệt săn gấp giống như
    dây đánh, khẩn tức là hiện tượng bị khí lạnh bên ngoài làm cho rút mạch máu lại”.
  17. HƯỠN (lơi):
    Hưỡn mạch a a tứ xứ thông,
    Liễu tiêu niễu niễu chiếm khinh phong.
    Dục tùng mạch lý cầu thần khí,
    Chỉ tại thung dung hòa hưỡn trung.
    Tạm dịch:
    Mạch hưỡn ung dung mà lưu thông,
    Lơ thơ cành liễu gió nhẹ rung.
    Muốn theo mạch lý cầu thần khí,
    Bốn chí thung dung hòa hưỡn không?
    Trong một hơi thở ra vô, mạch nhịp bốn chí gọi là Hưỡn. Hưỡn là mạch của người sức khỏe bình
    thường. Nếu Hưỡn mềm mà vô lực là hiện tượng thiếu máu, còn Hưỡn mềm mà hữu lực là hiện tượng
    lành mạnh.
  18. KHÂU (bộng):
    Trung không bàng thiệt nãi vi khâu,
    Phù đại nhi trì hư mạch hô.
    Khâu cánh đới huyền danh viết cách,
    Huyết vong khâu cách huyết hu hư.
    Tạm dịch:
    Giữa không bên có bộng rõ ràng,
    Nổi to mà chậm tựa lá hành,
    Khâu lại lơi Huyền tên là Cách,
    Khâu là mất máu, Cách hư tinh (tinh thiếu).
    Phàm sau khi bị mất máu nhiều, lượng huyết không đủ mạch máu thường nở to và sức co giãn của mạch
    máu xuống thấp, cho nên mạch hiện đột ngột bộng, nên gọi là mạch Khâu.
  19. HUYỀN (thẳng):
    Huyền lại đoan trực tợ tư huyền,
    Khẩn tắc như thằng tả hữu đàn.
    Khẩn ngôn kỳ lực, huyền ngôn tượng,
    Lao mạch huyền trường trầm phục gian.
    Tạm dịch:
    Nhớm đè căng thẳng tợ giây đờn,
    Không phải như Khẩn có xoắn lăn.
    Khẩn là nói lực, Huyền là tượng,
    Đừng lộn mạch Lao: Trầm, Huyền, Trường.
    Bịnh Nguyên nói: “Căng thẳng như đè vào giây đàn cầm, đàn sắc gọi là mạch Huyền. Mạch Huyền
    phần nhiều bị tháo cấp, giận dỗi, thần kinh bị xung động, khí lá Gan bị hoành nghịch gây nên”.
  20. CÁCH (ngăn):
    Cách mạch hình như án cổ bì,
    Khâu huyền tương hợp mạch hàn hư.
    Nữ nhân hưu sản tịnh băng lậu,
    Nam tử thế hư hoặc mộng di.
    Tạm dịch:
    Như da trống đè căng là cách,
    Thêm Khâu Huyền cùng hợp, hàn hư.
    Hết sanh băng lậu đàn bà,
    Thoát tinh hư nhược ấy là đàn ông.
    Mạch Cách là hiện tượng thiếu máu hao tổn, nếu ở người đàn ông con trai thì thường bởi sắc dục quá
    độ, hoặc bị bệnh thoát tinh, hoặc cưới gả sớm quá hao tổn làm ra mạch ấy.
  21. LAO (căng mà chìm):
    Lao trường khoan đại mạch lao kiên,
    Lao vị thường cư trầm phục gian.
    Cách mạch khâu huyền tự phù khởi,
    Cách hư lao thiệt yếu tường nghiên.
    Tạm dịch:
    Mạch lao là mạch đi chìm.
    Dài to cứng rắn rõ ràng phân minh.
    Cách, Khâu, Huyền, nổi ở trên.
    Cách, Hư, Lao, Thiệt phải nên tỏ tường.
    Mạch Lao là muốn nói cái ý kiên cố, là ý ẩn sâu. Phàm chứng Ung Thư ở vào thời kỳ thứ nhất chưa
    phá miệng rất dễ phát sanh hiện tượng mạch này.
  22. NHỤ (mềm):
    Phù vi nhụ tế tri vi nhụ,
    Trầm tế nhi nhu tác nhược trì.
    Vi tắc phù vi như dục tuyệt,
    Tế lai trầm tế cận ư vi.
    Tạm dịch:
    Mạch Nhụ nhỏ nổi mà mềm,
    Nhược thì chìm lỉm, nhỏ mềm khác xa.
    Vi thì muốn mất kia mà,
    Tế thì chìm nhỏ, nhận ra không lầm.
    Nếu bệnh Ung Thư mà hiện mạch này, tức là bệnh có hơn một năm rồi. Những người thiếu máu thể
    nhược thường thấy mạch này.
  23. NHƯỢC (yếu):
    Nhược lai vô nhược án chi nhu.
    Nhứt tế nhi trầm bất kiến phù.
    Dương hảm nhập âm tinh huyết nhược,
    Bạch đầu du khả thiếu niên sầu.
    Tạm dịch:
    Thể mạch vô lực thấy quá mềm,
    Vừa nhỏ vừa mềm lại vừa chìm,
    Dương hảm vào âm tinh huyết yếu,
    Thiếu niên mà thấy đáo huỳnh tuyền.
    Mạch Lý Cầu Chơn có nói: “Chìm, nhỏ, mềm, yếu nhớm tay lên như không, đè xuống kỹ mới thấy”.
    Mạch này thường hiện ở trường hợp nhiệt độ xuống thấp, tạng Tim suy nhược hư thoát vậy.
  24. TÁN (tan):
    Tán tợ dương hoa tán mạn phi,
    Khứ lai vô định chi nam tề.
    Sản vi sanh triệu, thai vi trụy,
    Cửu bệnh phùng chi bất tất y.
    Tạm dịch:
    Tán giống như bông tua tủa bay,
    Đến đi không định chí không đều.
    Đau lâu mạch ấy là nguy mất,
    Nhâm thần đúng tháng sắp sanh ngay.
    Nhớ ra ngày tháng còn chưa đủ,
    Thì đấy là điềm sắp trụy thai.
    Mạch Tán là cơ năng tạng Tim bị chướng ngại, máu đi cùng với hô hấp phát sanh biến chứng nghiêm
    trọng. Phàm bệnh tạng Tim, bệnh Ung Thư Phổi, bệnh Phổi Lao mà hiện mạch này đều là triệu chứng
    không hay.
  25. TẾ (nhuyễn):
    Tế lai lụy lụy tế như tư,
    Ứng chỉ trầm trầm vô tuyệt kỳ.
    Xuân hạ thiếu niên câu bất diệu,
    Thu đông lão nhược khước tương nghi.
    Tạm dịch:
    Mạch Tế tuy hiện nhỏ như tơ,
    Động tay rành rạnh có mất đâu.
    Trẻ trai xuân, hạ đều không hợp,
    Già cả Thu, Đông khỏi lo âu.
    Mạch Tế nghĩa là ở dưới ngón tay thấy rõ ràng, nhỏ như tơ tóc, nghĩa là thiếu máu, mất máu, bệnh kinh
    niên, trường hợp ốm o gầy mòn cho nên Nội Kinh nói: “Hình thạnh mà mạch Tế, hơi thở kém, thở
    không đủ là triệu chứng chết”.
  26. PHỤC (núp):
    Phục mạch thôi cân trước cốt tầm,
    Chỉ gian tài động ẩn nhiên thâm,
    Thương hàn dục hạn dương tương giải,
    Khuyết nghịch tề đông chứng thuộc âm.
    Tạm dịch:
    Lách gân chen thịt đến xương tầm,
    Mới động nương đây phục đặt tên.
    Thương hàn muốn hạn dương sắc giải,
    Khuyết nghịch bệnh đau chứng thuộc âm.
    Mạch Phục là mạch phải mò sát xuống xương mới thấy. Phàm những trường hợp đau nhức dữ dội
    thường hiện mạch này.
  27. ĐỘNG (dội):
    Động mạch dao dao sát tại Quan,
    Vô đầu vô vĩ đậu hình đoàn.
    Kỳ nguyên bổn thị âm dương bát,
    Hư giả dao hề thắng giả an.
    Tạm dịch:
    Mạch động dội dội sát ở Quan,
    Khum khum lưng đậu thấy rõ ràng.
    Âm dương kình chống mạch này hiện,
    Máu lên kinh động chớ xem thường.
    Mạch Động là mạch nhảy gấp rút, là hiện tượng máu lên chủ về động kinh.
  28. XÚC (gấp, khựng):
    Xúc mạch sát nhi thời nhất chỉ,
    Thử vi dương cực dục vong âm.
    Tam tiêu uất hỏa diêm diêm thạnh,
    Tấn tất vô sanh, thối khả sanh.
    Tạm dịch:
    Xúc là gấp gấp, thỉnh thoảng ngừng,
    Đó là dương cực muốn vong âm.
    Tam Tiêu uất hỏa hừng hừng thạnh,
    Càng thêm càng chết, bớt thì sanh.
    Mạch Xúc là hiện tượng mạch ngắn, gấp, là máu đi quá gấp có thể phát sanh biến trạng ở Tim.
  29. KIẾT (kết lại):
    Kiết mạch hưỡn nhi thời nhất chỉ,
    Độc âm thiên thắng dục vong dương.
    Phù vi khí trệ, trầm vi tích,
    Hạn hạ phân minh tại chủ trương.
    Tạm dịch:
    Mạch lơi thỉnh thoảng có một ngừng,
    Khí âm tràn ngập muốn vong dương.
    Nổi là khí trệ, chìm là tích,
    Hạn hạ phân minh phải suy lường.
    Mạch Kiết phần nhiều bởi hom Tim chướng ngại, máu chảy dội trở lại nên mạch hiện ngừng, chỉ trong
    chớp nhoáng rồi trả lại bình thường, dễ thấy nhứt là ở trường hợp sợ hãi.
  30. ĐỢI (ngừng lâu thay đổi):
    Động nhi trung chỉ bất năng hoàn,
    Phục động nhânnhi tác đợi khan.
    Bệnh giả đắc chi du khả liệu,
    Bình nhân khước dữ thọ tương quan.
    Tạm dịch:
    Đang động thoạt ngừng hơi lâu lâu,
    Đó là mạch đợi có gì đâu.
    Bệnh nhân mạch ấy còn thể trị,
    Người thường mạch ấy phải lo âu.
    Mạch Đợi là hiện tượng suy nhược, bởi tạng Tim suy nhược nên mạch nhảy thường có trạng thái ngừng
    lâu.

I. VỌNG CHẨN
Vọng chẩn nghĩa là khám bệnh bằng phép nhìn bằng mắt. Y học ngày nay thường dùng quang tuyến X
hoặc kính hiển vi v.v… Ở trường hợp nhìn xem, thật có sự giúp ích tương đương, nhưng theoTrung y
về phương diện vọng chẩn cũng có để lại môn quan sát sắc diện rất tinh mật, nào là quan sát về thần
sắc, nào phân biệt bợn Lưỡi v.v… Xin lần lượt thuật như sau đây:
A. Quan sát về sắc:
Các giống người có màu sắc đặc biệt trên thế giới như: vàng, xanh, trắng, đen, đỏ. Nay chúng ta bàn
về sự quan sát màu sắc đây chỉ là nhắm vào giống da vàng mà nói. Trong thiên Ngũ Tạng Sanh Thành
của Nội Kinh có nói: “Xanh như cỏ xuống màu là chết, vàng như da trái Chỉ Thiệt là chết, đen như
khói mây là chết, đỏ như màu máu cam là chết, trắng như xương khô là chết”. Đó là nói 5 sắc chết
hiện. “Xanh như lông cánh non là sống, đỏ như mồng Gà là sống, vàng như da bụng Cua là sống, trắng
như mỡ Heo là sống, đen như lông Cánh Cua là sống”. Đó là 5 sắc sống. Lại nữa, trong thiên Ngũ Sắc
Tuyên Minh có nói: “Đỏ phải giống như lụa bọc son, đừng như màu đá đỏ; trắng phải giống như bông
Cánh Ngỗng, đừng trắng như màu Muối rang; xanh phải giống như gành đá xanh láng, đừng xanh như
màu chàm; vàng như lụa bộc Hùng Hoàng, đừng vàng như đất sét; đen phải như sơn mài, đừng đen như
đất đen”. Những điều kể trên đều ý muốn nói hễ sắc tươi nhuận là tốt, không tươi nhuận là xấu. Người
xưa nói: “Ở trong có gì tất hiện ra ngoài”. Chúng ta thường thấy nhan sắc những người mạnh mẽ, đó là
hiện tượng đúng mức bình thường, nếu kém đi, tức là hiện tượng bệnh; trái thường tứ là hiện tượng của
bệnh lý, nặng hơn nữa như hiện tượng chết đã kể trên.
B. Quan sát về tinh thần:
Nếu thần khí được tươi nhuận là tốt, trái lại là xấu. Người xưa nói: Tinh, khí và thần là 3 vật quí trong
con người, phàm tinh bị bổn thì khí bị hao, khí hao thì thần không chỗ chủ. Người tinh thần đầy đủ, vẻ
mặt tươi sáng, thể cách mạnh khỏe, hô hấp hòa bình. Người tinh thần bị mất mát, buồn, quên, nói lẫn,
ánh sáng mắt dị thường, hoặc lần áo sờ giường, hình dung tiều tụy, thiếu máu ốm o. Cũng có người hư
thoát, thần mắt không còn, mở nhắm chẳng định, v.v…
C. Bợn lưỡi:
Nghĩa là nói màu bợn lưỡi biến thường, điều này rất quan hệ mật thiết với cơ năng tiêu hóa của ruột và
bao tử. Người thường ngày ăn ba bữa, bợn lưỡi cũng theo đó mà ba lần khác nhau. Màu bợn lưỡi bình
thường nhất là phải đỏ dợt hơi tro mà nhuận là tốt, cũng có khi vì thức ăn uống đóng vào làm ra hoặc
màu tro đen, đỏ, vàng, v.v.. Khi khám bệnh thầy thuốc phải cẩn thận. Những tướng bợn lưỡi có quan hệ
đến sống chết, sắp theo thứ tự như dưới đây:

  1. Nếu bợn lưỡi như màu trái cật heo đã lột mất màng bao, đó là triệu chứng nguy.
  2. Nếu bợn lưỡi đóng lang như kiếng cũng nguy.
  3. Nếu bợn lưỡi đóng chong như cát, khô ráo nứt nẻ là nguy.
  4. Nếu da mặt lưỡi như vỏ trái vải, tuyệt không có chút nước ướt là nguy.
  5. Nếu màu lưỡi như màu hồng chín đỏ là nguy.
  6. Nếu màu lưỡi như bột rang cũng nguy.
  7. Nếu lưỡi láng không đóng bợt, đó là triệu chứng nguy của bộ tiêu hóa.
  8. Nếu lưỡi cuốn rút lại và giái teo là không trị được.
  9. Lưỡi cứng không lay động, không nói được là nguy.
  10. Lưỡi nổi bợn trắng từng mảng như bông tuyết, đó là tạng tỳ lạnh và bế tắc, khó trị.
  11. Nếu uống Huỳnh Cầm, Huỳnh Liên mà hiện tượng lưỡi hình chữ nhân, là không trị được.
    Những điều đã nêu trên chẳng qua là yếu điểm, đều là người xưa trong lâm chứng kinh nghiệm mà tìm
    được. Và cũng là phản ứng trong cơ thể con người khi tạng phủ có bệnh. Cho nên pháp “Quan hình sát
    sắc”, xem tinh thần và bợn lưỡi hợp nhau để bù đắp lẫn nhau thật có quan hệ trên việc chẩn đoán.
    II. VĂN CHẨN
    Văn chẩn tức là phép nghe. Tây y ngày nay thường dùng ống nghe để khám. Nghe tiếng đập của tim để
    quyết định bệnh nặng nhẹ vậy. Nội Kinh có nói: “Cung, thương, giốc, chủy, vũ là 5 âm. Nạt, cười, ca,
    khóc, rên là 5 thinh”, Nội Kinh dùng 5 thinh, 5 âm để quan sát sự biến động của 5 tạng. Theo đây xin
    tuần tự nêu ra:
  12. ÂM CUNG: Lớn mà hòa, lưỡi ở quãng giữa, thinh của nó là ca. Nếu Âm Cung loạn là bệnh ở Tỳ.
  13. ÂM THƯƠNG: Nhẹ mà cứng, miệng phải mở to, thinh nó là khóc. Âm Thương mà loạn là bệnh ở
    Phổi.
  14. ÂM GIỐC: Điều hòa mà thẳng, lưỡi phải rút về đằng sau, thinh của nó là nạt. Âm Giốc loạn là bệnh
    ở Gan.
  15. ÂM CHỦY: Hòa mà dài, chót lưỡi đụng răng, thinh của nó là cười. Âm Chủy mà loạn là bệnh ở
    Tim.
  16. ÂM VŨ: Chìm mà sâu, môi hướng về bên trên, thinh của nó là rên. Âm Vũ mà loạn là bệnh ở Thận.
    Kế theo đây là những điều phải chú ý: tiếng hô hấp cùng với tiếng kêu đau, quát tháo, nói năng, ho hen,
    ói mửa, nấc cụt, những thinh âm ấy đều chẳng như nhau. Ví như ho hen phân nửa đều quan hệ ở bộ hô
    hấp, ói mửa phần nhiều quan hệ ở bộ tiêu hóa, nói năng đớ, khó phần nhiều do dây thần kinh lưỡi và
    cuống họng bị tê dại, còn như nói xàm phần nhiều bởi hệ thống thần kinh. Bao nhiêu điều đã kể trên
    đều là nhân phép chẩn đoán có hệ thống phạm vi học thuyết. Đó là lý do mà người xưa đối với văn
    chẩn rất là chú trọng. Nếu đem so sánh với phương pháp thuần dùng ống nghe thì đàng này càng tinh
    mật hơn. Đó là sự kinh nghiệm chất chứa nhiều đời trong việc khám bệnh của Trung y. Nếu chúng ta
    vận dụng cả dụng cụ khoa học hợp với sở đắc kinh nghiệm của ta cho được dung thông, thì chúng ta sẽ
    được một màu sắc kiện toàn trên pháp chẩn đoán vậy.
    III. VẤN CHẨN
    Vấn chẩn là phép hỏi bệnh để khám phá. Tôn Sư Mạo nói: “Khi chưa khám phá phải hỏi trước”. Tất
    cả những gì mà bệnh nhân biết được, đều phải hỏi phăng ra cả. Thí dụ như: Phụ nữ phải hỏi kinh kỳ, và
    chứng đã qua, hiện tại, dòng họ, chức nghiệp, thể chất, hoàn cảnh gia đình cùng bao nhiêu cái khác
    nữa.
    VI. XÚC CHẨN
    Xúc chẩn là phép khám để dò tìm nơi có bệnh. Giờ đây chúng ta bàn đến xúc chẩn. Ở Nội Kinh có
    phép khám bụng và lưng, đó là hai phép mở đầu cho xúc chẩn. Chứng Ung Thư đối với xúc chẩn càng
    quan hệ mật thiết hơn, như Ung Thư ở cần cổ, ở vú, ban đầu không chút mảy may đau đớn. Thử lấy tay
    sờ vào cảm thấy có hạch cứng, hoặc bướu thịt cứng. Lại tới một bước nữa dùng phép kiểm nghiệm tất
    phải phối hợp với sự kiểm tra bằng quang tuyến. Cũng có khi ở dưỡng đường, người ta dùng phương
    pháp cắt lấy một chút da thịt chỗ bệnh dùng kính hiển vi mà quan sát.
    Gần đây nước Mỹ có một nhà khoa học và là một giáo sư của viện Đại học Y khoa Gia Nhĩ mới phát
    minh một phương pháp dùng huyết thanh (Sérum) để nghiệm chứng Ung Thư. Trong thực nghiệm phẩm
    huyết thanh của người bình thường với chất Proteus Antigen, khi cho hỗn hợp vào trong ống thí nghiệm
    liền hiện phản ứng, đó là phản ứng kết khối (Clumping), tên khoa học gọi là phản ứng ngưng kết
    (Agglutination). Nếu là huyết thanh của người có bệnh Ung Thư, cũng như trẻ con từ 5 tuổi trở xuống,
    khi hòa với chất Proteus Antigen thì thấy hiện tượng không có năng lực kết khối. Ngoài ra, 95% người
    trưởng thành bình thường và 73% đàn bà chửa đều có năng lực kết khối. Người bệnh lao Phổi, bệnh
    tinh thần, người chưa mắc phải bệnh Ung Thư và đã mắc phải bệnh Ung Thư được trị xong bằng giải
    phẫu thì huyết thanh của họ cũng đều có năng lực kết khối cả. Như thế nghĩa là huyết thanh cộng với
    Proteus Antigen nếu mất hẳn sức kết khối, tức là hiện tượng rõ chứng Ung Thư của thời kỳ thứ nhất
    vậy. Nhân đây ta thấy cách thử huyết thanh này có một giá trị đặc biệt với bệnh Ung Thư trong thời kỳ
    đầu, là thời kỳ rất khó khám vậy. Như có thể vận dụng phép này thì có thể đạt được sự phát giác rất
    sớm, có thể kịp thời chữa trị thì bệnh Ung Thư không khó gì tiêu diệt. Phép thử này chỉ cần tốn ít phút,
    bất cứ sở thí nghiệm nào cũng có thể làm được, chỉ cần tốn ít giọt máu và chút ít dụng cụ thì có thể
    nghiệm biết. Cách khám phá bệnh Ung Thư như đã kể trên đều có giá trị lợi ích rộng rãi, phải được gia
    tăng sự phổ biến, làm cho mỗi người luyện thành tập quán kiểm tra có kỳ hạn thì sự uy hiếp của bệnh
    Ung Thư không chỗ trốn núp vậy. Trị bệnh Ung Thư trong thời kỳ đầu tiên không những mau công hiệu
    lại dễ trị khỏi. Tôi rất mong người bệnh muôn lần chớ nên thối thác để khỏi đưa từ bệnh nhẹ sang bệnh
    nặng, và nặng lần đến nguy vậy.
    Đối với Đông y trên sự chẩn đoán tuy có những phương pháp vọng, văn, vấn, thiết v.v… nhưng đó chỉ
    là thuộc về hạng người trí huệ tương đối khá cao, kinh nghiệm phong phú, thì sự phán đoán bình tĩnh
    thật có chỗ độc đáo. Nhưng phổ thông không dùng phép thử máu để nghiệm bệnh truyền nhiễm. Tôi còn
    nhớ khi tôi ở Trùng Khánh, có lần thầy Tiêu Dị Đường bị sốt rét, nhân thể chất suy nhược, ban đầu chỉ
    có sợ lạnh, phát nóng nằm vùi vài hôm. Vì thầy là Viện trưởng Viện Trung y Trung ương, nên giới bạn
    bè Trung y quan hệ rất đông như Trương Giảng Trai, Trần Tôn Trai, Khâu Tú Thiên, Đường Xuân
    Dương, v.v… đều có chẩn trị qua. Ông thì nói lạnh, ông lại nói nóng, người này nói khí hư, người kia
    nói huyết kém. Mỗi người đều cho uống đến mấy chén cũng không thấy ai có công hiệu. Anh của Viện
    Trưởng với tôi rất để ý đến sự phát triển bệnh tình này. Tôi bèn đưa kiến nghị trước nhất nên thử máu,
    kế đó mới thực hành quyết định phương pháp trị liệu vì mỗi ngày xế chiều bệnh tình trở nên trầm trọng,
    nhiệt độ cao hơn buổi mai, tinh thần ngày càng kém sút. Anh của Viện Trưởng bèn cấp tốc gọi điện
    thoại cho Hữu Nhiệm tiên sinh và tỉ mỉ báo cáo hết tình hình, đồng thời nhờ tiên sinh gọi điện thoại
    cho Lương y Thoại Hằng là Viện trưởng Y viện Trung ương để nhờ y viện cấp cứu. Sau khi thử máu
    mới hay là sốt rét rừng. Từ đó nằm luôn trong y viện được nửa tháng là khỏi. Khi ra khỏi y viện lại
    uống thuốc chén để điều lý mới hoàn toàn hồi phục. Tôi thường thấy những thầy thuốc Trung y ngày
    nay khám bệnh kẻ bàn thấp người bàn cao và phán đoán bệnh tình rất là vi diệu, làm cho chúng ta càng
    thêm kinh ngạc! Tại Hương Cảng có đến 9 chỗ khám bệnh có quang tuyến X và phòng thí nghiệm, đó
    cũng là hiện tượng tốt đối với Trung y, nhưng phải cần nhận chơn và vận dụng nó cho đúng chỗ.
    Lời bàn của dịch giả
    Bảo rằng: “Khi thấy có triệu chứng lạ, người bệnh nên sớm đến Lương y chuyên môn để khám”. Nơi
    đây tâm của tác giả thật rất thiết tha, nhưng… nếu là thầy thuốc trĩ, thì hầu hết bệnh nhân đều có thể trở
    thành bệnh trĩ, cũng như ở phòng chiếu điện hầu hết bệnh nhân đều có thể trở thành bệnh phổi v.v…
    Biết đâu Lương y chuyên môn bệnh Ung Thư cũng rất khó tránh khỏi biến tất cả bệnh nhân đều trở
    thành bệnh Ung Thư?!
    Người ta nói: “Thầy thuốc là con đẻ của bệnh nhân”, nhưng biết đâu bệnh nhân lại cũng không phải là
    miếng thịt mỡ để cho thầy thuốc thắng?!
    Tâm với cảnh tuy hai mà một, cảnh cùng tâm tuy một mà hai. Điều mà tác giả khuyên bệnh nhân thiệt là
    đáng kính, nhưng lợi hay hại còn tùy thuộc ở nơi người. Ôi! Sự đời biết trách lỗi ở ai!
    Trên kia vừa mở đầu bàn về cách khám là tác giả đã than: ở thời kỳ thứ nhất của bệnh Ung Thư nếu
    không áp dụng phương pháp khoa học thì dù Trung y hay Tây y cũng đều cảm thấy khó khăn. Bốn
    chữ“phương pháp khoa học” của tác giả nói đây không ngoài mục đích là phát giác sớm và được chính
    xác như tác giả hằng mong muốn, hầu mong áp dụng phương pháp trị liệu mà tác giả đã tin tưởng, đó là
    lý tưởng tác giả. Nhưng trên sự thực có vài câu chuyện bắt buộc kẻ dịch này phải nêu ra để giúp thêm
    tài liệu thẩm xét cho độc giả như sau:
    Một bà lão trên 70 tuổi mắc phải chứng Ung Thư ở cổ, trải qua thời gian lâu, lại bị y tá dùng
    Péniciline tiêm vào chỗ đau làm cho mụt Ung Thư to đến nhìn thấy bề tròn của cổ gần bằng đầu. Nếu
    nhắm mắt mà rờ cũng biết là bệnh Ung Thư. Thế mà khi vào bệnh viện Bình Dân, các bác sĩ chuyên
    môn về bệnh Ung Thư lại phải cho cắt thịt để thử thì mới chắc. Sau khi cắt thịt lại bảo 15 ngày trở lại
    sẽ mổ. Về nhà được tuần lễ là bà qui tiên. Ôi! Phương pháp khoa học!
    Vợ một ông bác sĩ Viện trưởng Viện Ung Thư bị bệnh Ung Thư ở cổ chân. Viện trưởng cũng là người
    mắc bệnh Ung Thư gan mà qua đời. Bệnh của bà xảy ra từ khi còn trẻ. Bác sĩ Viện trưởng đã biết rõ là
    bệnh Ung Thư và cũng đã từng cầu viện với tất cả bạn bè nhưng vẫn vô hiệu. Sau khi bác sĩ qua đời,
    bệnh tình của bà cũng càng trầm trọng và bà cũng đã 70 tuổi.
    Đến đây có một vị Trung y khám phá ra bệnh của bà bởi tập quán nhai trầu và ngồi sòng bạc làm mất
    nhiều nước bọt, bí hơi, bí đại tiện và thức đêm mà phát sanh. Chỉ vì bà không ngừng tập quán nên
    không được nhận chữa trị. Cuối cùng bà vào bệnh viện Bình Dân cưa chân rồi chết. Ôi! Phát giác sớm.
    (Trên đây toàn là sự thật mười mươi chỉ vì không muốn dẫn giải vài dòng làm lạc hướng độc giả.
    Mong độc giả để ý).
    Hai vị Lương y, một chuyên về giác quan và trực giác, một lại dựa hẳn vào tất cả dụng cụ máy móc, cả
    hai đều đến chỗ siêu việt, nhưng rủi một khi lâm vào cảnh tay không thì vị Lương y máy móc dù muốn
    dù không cũng phải cảm thấy cùng đường. Thế mới biết cái gì ráp từ ngoài vào tuy có giá trị hấp dẫn
    đặc biệt của nó thật, nhưng đến chỗ sở đoản thật không ngờ. Lời tục nói: “Hễ máy thì móc”, thật rất có
    phần có lý.
    Tác giả luôn luôn cổ xúy đề cao quốc túy nhưng tác giả cũng rất thích thú phương tiện dụng cụ vật
    chất. Điều này nếu đứng trên lập trường tăng cường sở trường của mình, thâu thập sở trường của
    người, bồi bổ sở trường cho người, ngăn chắn cho sự thâu thập sở đoản của mình thì thật rất được tán
    dương. Nhưng trong sảng sốt mê ly mấy ai đứng vững trên lập trường!
    Dụng cụ cứ cất đi mãi không dùng lâu ngày cũng phát sanh rỉ sét. Giác quan ta cũng như thế, càng ỷ lại
    vào dụng cụ vật chất bao nhiêu thì giác quan cũng theo đó mà chậm lụt bấy nhiêu. Điều này cần phải
    biết.
    Dùng huyết thanh để thử phản ứng Ung Thư, dùng kính hiển vi để kiểm tra tế bào, dùng quang tuyến X
    để khám nội tạng, trên kỹ thuật vật chất, hình thức, thông dụng thật rất đáng kính.
    Nhưng đã là chủ trương tổng thể trị liệu tất nhiên phải có con mắt tổng thể khám phá, tổng thể nghiên
    cứu, tổng thể điều tra, vì đó là sở trường đặc biệt của Á Đông vậy.
    Đã có con mắt tổng thể như thế mới có thể soi thấu bệnh căn của một chứng bệnh có quan hệ đến tổng
    thể như bệnh Ung Thư, và khi thấu suốt được bệnh căn thì lẽ đâu việc thử huyết thanh, kiểm nghiệm tế
    bào, áp dụng quang tuyến X không trở thành phương tiện trang bị đầy đủ thứ hai?
    Tiêu Dị Đường tiên sinh bị sốt rét rừng. Điều này lẽ đâu các vị Lương y trong hội đồng viện không lấy
    làm xấu hổ?
    Nếu theo dõi bệnh tật như Bá Lý Hề nuôi trâu thì chắc chi việc thử máu với không thử máu sẽ không
    hơn kém.
    Một cõi Trung Hoa mênh mông bát ngát, trong vốn sẵn của phụ ấm: Khổng, Mạnh, Lão, Trang, Kỳ Bá,
    Huỳnh Kỳ, Hoa Đà, Biển Thước. Ngoài ra, lần lượt thâu thập Phật giáo, Gia Tô giáo, thêm bao gồm
    Thái Tây văn vật, đứng trên quan điểm anh cả của khởi thủy văn minh, nhân lực, vật lực và tài lực vô
    cùng phong phú như thế kia, giá nếu chịu khó vượt lên cái gọi là “đông-tây, cổ-kim, tâm-vật” để mà
    ung dung điều chỉnh áp dụng tất cả những cái tương đối ấy trong nền tảng tuyệt đối, thì biết đâu sẽ đỡ
    khổ phần nào? Và biết đâu sẽ trở thành ân nhân của thế hệ thái bình thạnh trị trong toàn cõi nhân loại
    mai sau!

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc