Tích khôi
Nói về bệnh lích khối, không cần phải bàn tới chuyện cổ nhân lập ra 5 chứng tích, 6 chứng tụ, 7 chứng trưng, 8 chứng hà. Cũng không cần phải bùn cãi để mà bác bỏ những lý luận của người xưa vì quá ư phiền phức. Nay chỉ cần hỏi trong bụng mà có kết khôi thì cái kết khôi đó là cái gì?
Nếu có tích khôi ở dạ dày thì tất là do thực tích (do ăn uống). Nếu tích khôi ở trong ruột thì là do phân bị táo kết lại mà thành. Tích khôi đã lâu ngày mà ăn uôhg vẫn như bình thường thì tất nhiên là tích khối đó không phai nằm ở trong trường vị (ruột và dạ dày, ý nói đường tiêu hóa). Mà nếu đã không phải nằm trong trường vị thì là nằm ngoài trường vị. Mà đã nằm bên ngoài trường vị, dù bất kể chỗ nào thì cũng có khí huyết. Kh£jthì có khí quản, huyết thì có huyết quản. Khí thì vô hình, vì thế cho nên khí không thể kết (hành khôi được. Thế thì nếu mà kết thành khôi được tất là do huyết hữu hình. Huyết mà thụ hàn (lạnh) thì sẽ ngưng lại mà kết thành khối. Huyết mà bị nhiệt nung nâu cho khô lại thì cũng kết thành khôi. M *
Huyết quản nằm dọc theo thân người mà bị ngưng kết thì hình dáng cái chỗ ngưng kết đó sẽ nằm dọc theo thân người. Huyết quản nằm ngang mà bị ngưng kết thì cái chỗ ngưng kết đó sẽ nằm ngang trong thân người. Nếu cả hũ Hoại huyết quản là dọc và ngang mà đều bị ngưng kết thì chỗ ngưng-kết đó sẽ kết thành mảng. Cái mảng ngưng kết đó lâu ngày sẽ dày dần lên mà thành khôi. Huyêt đã bị kết khôi thì sẽ phát sốt, cần phải biết răng huyêt (rong huyêt phủ mà đâ bị ứ lại thì sẽ phát sốt. Huyết
phủ là căn bản của huyết, nếu huyết phủ bị bế tắc là coi như hết đời. Nhưng nếu chỉ bị ứ huyết ở trong bụng thì sẽ không phát sốt, vì vùng bụng chỉ lạ cái ngọn cửa huyết mà thôi, cho nên dù huyết có’ bị ứ cũng không đến nỗi bị thương tổn đến tính mạng.
Bất kể là kết khôi ở sườn bên trái hay sườn bên phải, bên trái rốn hay bên phải rốn, bên trên rốn hay là bên dưới rốn, hoặc là đặt tay vào mà thấy mạch đập, đều dùng phương thuốc này để chữa, không có bệnh nào mà không công hiệu, cứ xuâl thủ là ‘‘Dược đáo bệnh trừ”, chắc chắn thu công. Bệhh nhẹ thì uống ít, bệnh nặng thì uống nhiều, cứ thây bệnh hết thì ngừng thuốc mà không nên cho bệnh nhân uống nhiều. Nếu như gặp những bệnh nhân mà chân khí bị hư yếu quá, e không chịu nổi những bài thuốc tiêu ứ và khắc phạt, thì có thể gia thêm từ 3 tới 5 tiền Đảng sâm mà không cần câu nệ.
(Bệnh báng tích ở trẻ em)
Trẻ em bị bĩ khối, bụng lớn mà nổi gân xanh, trước sau gì thì cũng phải chữa theo đường lối chữa bệnh huyết ứ. Hãy dùng bài thuốc này mà phối hợp với bài “Thông khiếu hoạt huyết thang” và “Huyết phủ trục ứ thang” ở Ưong phần trên mà chữa. Cứ dùng 3 bài này thay nhau mà uông, từ xưa tới nay chưa thây có bệnh nào là không thành công.
Phàm trong bụng có một chỗ đau, trước sau không di chuyển thì nguyên nhân đều là do ứ huyết, cứ dùng bài này mà chữa, cực kỳ công hiệu.
Hễ nằm xuống là thấy bụng nặng nề
Người bị bệnh này, khi đi ngủ trong bụng như có vật gì. Nằm nghiêng về bên nào thì thấy vật nặng đó cũng nghiêng về bên ây. Đó là do bên trong có huyết ứ, cũng lấy ngay bài này để chữa, nếu có kèm thêm tạp chứng nào thì dùng kèm thêm vị thuốc để chữa tạp chứng đó.
(Tiêu chảy lúc sáng sớm)
Cứ trời tang tảng sáng là lại đi tả hai ba lượt. Chứng này cổ nhân gọi là Thận tiết. Vì theo lời bàn của cổ nhân là do Thận hư. Người xưa dùng “Nhị thần hoàn”, “Tứ thần hoàn”…v…v…để chữa mà thấy chẳng ăn thua gì. Bệnh Thận tiết này thường kéo dài ba bôìi năm không khỏi.
Chữa bệnh mà không biết nguồn gốc của bệnh thì thật là khó lắm thay! cổ nhân không biết rằng những bệnh trên đều do Tổng đề có ứ huyết, khi. nằm thì gây nên bế tác ở Târĩ mồn, vì thế nước không thể chảy ra khỏi Tân môn được mà từ Tân môn chảy vào Tiểu trường rồi hòa vào với phân mà phân trở nên loãng, vì thế cứ sáng sớm ngày ra là người bệnh phải đi tiêu chạy từ ba tới năm lần. Dùng bài thuốc này để trục ứ huyết trên Tổng, đề, khi huyết đã lưu thông thì Tân môn không bị ngănr tr-ở nữa, nước chảy ra được là tiết tả ngừng ngay. Chỉ cần uốhg từ 3 tới 5 thang là bệnh lạp tức khỏi ngay.
(Dân gian thường gọi là tiêu chảy mãn tính)
Người bệnh bị tiêu chảy lâu ngày, trăm phương ngàn kế không khỏi, là vì trên Tổng đề có quá nhiều ứ huyết, cũng dùng bài thuốc này là khỏi.
CÁGH HẠ TRỤC ứ THANG
Công thức của bài thuốc như sau:
-Ngũ linh chi 2 tiền.
Đương quy 3 tiền.
Xuyên khung 3 liền.
Đào nhân 3 tiền (nghiền nát).
Đơn bì 2 tiền.
Xích thược 2 tiền.
ô dược 2 tiền.
Nguyên hồ 1 tiền.
Cam thào 3 tiền.
Hương phụ 1,5 tiền.
Hồng hoa 3 tiền.
Chỉ xác 1,5 tiền.
Tâ’t cả liều lượng trên là một thang, sắc nước uống.
Phương thang ca quyết:
Cách hạ trục ứ: Đào, Mẫu đơn,
Xích thược. Ô dược, Nguyên hồ, Cam,
Quy, Khung, Linh chi, Hổng hoa, Xác. Hương phụ khai uâ’t, huyết diệc an.
