Năm chứng hư là : mạch tế, da lạnh, khí ít, đại tiểu tiện hoạt thoát, không ăn uống được (91). Nếu cho ăn uống cháo, nước vào dạ dày mà tiết tả ngừng được, thì sống.
Năm chứng thực (92) là : mạch thịnh, da nóng, mắt mờ, choáng, đại tiểu tiện không thông, bụng trướng. Nếu dùng phép tả, mà đại tiểu tiện thông lợi và ra mồ hôi được, thì sống.
Năm chứng thắng là : “phong khí” thắng thì lay động ; “nhiệt khí” thắng thì sưng tấy ; “táo khí” thắng thì khô ráo ; “hàn khí” thắng thì phù nề ; “thấp khí” thắng thì ỉa chảy.
Năm tính ghét (ngũ ố) là : tâm ghét NHIỆT ; phế ghét HÀN ; can ghét PHONG ; tỳ ghét THẤP ; thận ghét TÁO.
Sáu chứng thoát là : thoát khí, thoát huyết, thoát tinh, thoát thần, thoát tân, thoát dịch.
Năm chứng lao là : nhìn lâu hại huyết thì lao tâm ; nằm lâu hại khí thì lao phế ; ngồi lâu hại nhục thì lao tỳ ; đứng lâu hại xương thì lao thận ; đi lâu hại gân thì lao can.
Mưu lự quá sức, làm mệt nhọc, tổn hại đến Can, ứng với chứng “cân cực” (93)
Vận dụng cơ mưu sâu sắc làm mệt nhọc, tổn hại đến Tỳ ; ứng với chứng “nhục cực” (94)
Quá nghĩ những việc ngoài ý tưởng, làm mệt nhọc, tổn hại đến Tâm ; ứng với chứng “mạch cực” (95)
Quá lo những việc dự định phải làm, làm mệt nhọc, tổn hại đến Phế ; ứng với chứng “khí cực” (96)
Khắc khổ giữ chi tiết, làm mệt nhọc, tổn hại đến Thận ; ứng với chứng “cốt cực” (97)
Đầu là nơi ở của tinh thần, đầu cúi gục, mắt nhìn sâu, là tinh thần sắp thoát.
Vùng lưng trên là ngoại phủ của bộ phận trong ngực (98) ; lưng còng, và sệ xuống, là bộ phận trong ngưc sắp bị hư hoại.
Eo lưng là ngoại phủ của Thận ; eo lưng không quay trở được, là thận sắp suy bại.
Xương là chỗ chứa của tủy ; không đứng lâu được, đi thf lảo đảo, là xương sắp bại.
Đầu gối là chỗ chứa của gân ; không co duỗi được, phải đi lom khom, là gân sắp bại.
Năm chứng suy tổn là :
- Suy tổn da lông, da nhăn mà lông rụng
- Suy tổn huyết mạch, huyết mạch hư ít, không dinh dưỡng được tạng phủ.
- Suy tổn cơ nhục, cơ nhục gầy mòn, ăn uống không sinh ra da thịt được,
- Suy tổn gân, gân liệt không tự co lại được.
- Suy tổn xương, xương liệt không dậy khỏi giường được.
Suy tổn từ trên xuống (99) đến khi không dậy khỏi giường được thì chết.
Suy tổn từ dưới lên (100) đến khi da nhăn mà lông rụng thì chết.
Phế chủ da lông, phế hư tổn, thì phải bổ khí.
Tâm chủ huyết mạch, tâm hư tổn, thì phải điều hòa vinh vệ.
Tỳ chủ cơ nhục, tỳ hư tổn, thì phải điều hòa thức ăn uống, thích đáng độ ấm lạnh.
Can chủ gân, can hư tổn, thì phải hòa hoãn trung khí.
Thận chủ xương, thận h tổn, thì phải bổ tinh (101)
Buồn rầu lo nghĩ, thì hại Tâm ; hình lạnh (102), uống lạnh, thì hại Phế ; tức giận, khí nghịch lên thì hại Can ; ăn uống, nhọc mệt, thì hại Tỳ ; ngồi nơi ẩm thấp, hay lội nước, thì hại Thận.
Lục khí quá thịnh thì gây hại, phải có kế theo để ức chế đi (10)
Hàn cực độ thì sinh nhiệt ; nhiệt cực độ thì sinh hàn.
Mộc cực thịnh thì giống như Kim ; hỏa cực thịnh thì giống như thủy ; thổ cực thịnh thì giống như Mộc ; Kim cực thịnh thì giống như Hỏa ; Thủy cực thịnh thì giống như Thổ.
Năm uất là : “đạt, phát, đoạt, tiết, chiết”.
Mộc uất thì phải “đạt”, là gây nôn mửa để cho được thông đạt.
Hỏa uất thì phải “phát”, là phát hãn để cho được sơ tán.
Thổ uất thì phải “đoạt”, là tả hạ để cho khỏi ủng tắc.
Kim uất thì phải “tiết”, là thấm tiết, giải biểu, lợi tiểu tiện.
Thủy uất thì phải “chiết”, là ức chế để cho khỏi xung nghịch lên.
Dưới tâm đầy nghịch lên, là do tả hạ quả mức.
Khí xung lên ngực, đứng dậy thì xây xẩm, là do làm nôn mửa quá mức.
Thịt máy, gân giật, chân co, sợ lạnh, là do phát hãn quá mức.
Thoát dương thì thấy ma quỉ, do khí không giữ vững.
Thoát âm thì mắt lòa, do huyết không dinh dưỡng.
“Trùng dương”(104) thì phát cuồng, vì khí dồn vào phần dương.
“Trùng âm” (105) thì phát điên, vì huyết dồn vào phần âm.
Khí lưu lại mà không tán đi, là khí bị bịnh trước.
Huyết ngưng trệ mà không nhuần thấm, là huyết bị bịnh sau.
Năm tạng không điều hòa, thì 9 khiếu không thông.
Sáu phủ không điều hòa, thì kết đọng thành ủng trệ.
Tay co mà không duỗi được là bịnh ở gân.
tay duỗi mà không co được là bịnh ở xương.
“Khê”là chứng gân mạch rút mà co lại.
“Túng” là chứng gân mạch giãn mà duỗi ra.
“Súc nặc” là chứng chân tay co kéo, phút duỗi, phút co.
Lưỡi thè ra không rụt lại được, là dương cường thịnh.
Lưỡi rụt lại khong nói được, là âm quá cương thịnh.
Mùa xuân cảm phong, đến mùa hè ắt sinh ỉa sống phân.
Mùa hè cảm thử, đến mùa thu ắt sinh bịnh sốt rét.
Mùa thu cảm thấp, đến mùa đông ắt sinh bịnh ho.
Mùa đông cảm hản, đến mùa xuân ắt sinh bịnh ôn.
“Phong” là đầu mối khởi phát các thứ bịnh (106ộc
“Phong phì” (107) là chứng chân tay không co lại được.
“Thiên khô” (108) là chứng bại liệt nửa người.
“Phong ý”(109) là chứng hôn mê bất tỉnh.
“Phong tý” là các chứng đau nhức giống chứng phong.
“Than”(110) có nghĩa là yên lặng, là chứng gân mạch buông xuôi, yên lặng, không cử động được.
“Hoán”(111) có nghĩa là rời rã, là chứng huyết khí tán mạn, rời rã. Không có tác dụng nữa.
“Hàn” là khí heo hắt, sát hại của trời đất.
“Thương hàn” là chứng mình nóng, không mồ hôi, mà ghê rét.
“Thương phong” là chứng mình nóng, có mồ hôi mà sợ gió.
“Thái dương chứng” thì đầu đau, mình nóng mà xương sống cứng đơ.
“Dương minh chứng” thì mắt đau, mũi khô, không ngủ được.
“Thiếu dương chứng” thì tai điếc, sườn đau, rét nóng, nôn mửa mà miệng đắng.
“Thái âm chứng” bụng đầy, đại tiện tự lợi, xích thốn mạch trầm, cổ họng khô, không có tân dịch.
“Thiếu âm chứng” thì lưỡi khô, miệng ráo.
“Quyết âm chứng” thì buồn bực, bụng đầy, mà bìu dái co lại.
Biểu nhiệt thì nóng hâm hấp.
Lý nhiệt thì nóng chưng chưng.
Lưng gáy cứng là tà ở biểu, thuộc kinh Thái dương.
Sợ gió là thấy gió thì khiếp sợ.
Phát nóng, ghê rét, là bịnh phát ở phần dương.
Không phát nóng mà ghê rét, là bịnh phát ở phần âm.
Nong rét qua lại, là âm dương giành thắng lẫn nhau.
Phát nóng mà trong tâm buông bực, là nhiệt tà truyền vào phần lý.
“Tiên quyết”(112) là chứng nhiệt khí nung nấu, do buòn phiền, nhọc mệt quá độ.
“Bạc quyết”(113) là chứng khí nghịch quá thậm.
“Giảỉ diệc”(114) là chứng đường mạch sống lưng đau nhức, ít hơi, không muốn nói.
Chân tay không co lại được, là bịnh thuộc Tỳ.
Nhục nuy (115) là chứng thịt bị tê dại.
Năm chứng ẩm là : chi ẩm, lưu ẩm, đàn ẩm, huyền ẩm, dật ẩm (116)
Năm chứng tiết là : tỳ tiết, vị tiết, đại trường tiết, tiểu trường tiết, đại giả tiết (117). Lại có các chứng xôn tiết (118) thận tiết (119), đỗng tiết (120), nhu tiết (121), vụ đường (122).
Tỳ tiết là chứng tiết tả, ruột đầy trướng, nôn xốc.
Vị tiết là chứng tiết tả, đi ra thức ăn không tiêu hóa.
Đại trường tiết là chứng ăn xong, thì bụng đau quặn mót ỉa.
Tiểu trường tiết là chứng đại tiểu tiện cùng đi ra máu mủ.
Đại giả tiết là chứng “lý cấp hậu trọng”(123)
Xôn tiết là chứng đại tiện không tiêu hóa thức ăn, do bịnh ở Tỳ (124)
Vụ đường là chứng đại trường có hàn (125)
Trường cấu là chứng Đại trường có nhiệt. (126)
Tỳ ước (127) là chứng đại tiện rắn mà tiểu tiện lợi.
Năm chứng cách(128)là : lo, giận, lạnh, nóng, khí.
Năm chứng yết (129) là : lo nghĩ, nhọc, ăn, khí.
Chín khí (130) là : mừng, giận, nghĩ, thương, sợ, kinh, nhọc, lạnh, nắng.
Năm chứng “tích”(131) là do ngũ tạng sinh ra.
Sáu chứng “tụ” (132) là do lục phủ gây nên.
Can tích ở cạnh sườn bên trái, gọi “phì khí”
Phế tích ở cạnh sườn bên phải, gọi “tức bôn”
Tâm tích ở trên rốn, gọi “phục lương”
Thận tích ở dưới rốn, gọi “bôn đồn”
Tỳ tích ở giữa vị quản, gọi “bĩ khí”
Năm chứng đản là : hoàng đản, hoảng hãn, tửu đản, cốc đản, nữ lao đản (133)
Ngũ luân (134)là : thủy luân, phong luân, khí luân, huyết luân, nhục luân.
Bất khuếch (135) là : thủy, phong, thiên, hỏa, lôi, sản, trạch, địa.
Năm chứng anh (136) là : nhục anh, cân anh, huyết anh, khí anh, thạch anh.
Sáu chứng lựu (137) là : cốt lựu, chi lựu, nhục lựu, nùng lựu. huyết lựu, thạch lựu.
Chín chứng tâm thông (138) là : ẩm thống, thực thống, phong thống, lãnh thống, nhiệt thống, qui thống, trùng thống, chú thống, khứ lại thống.
Bảy chứng sán (139) là : hàn sán, thủy sán, cân sán, huyết sán, khí sán, hồ sán, đồi sán.
Bịnh Tam tiêu (140) phần nhiều thuộc huyết hư ; “Thượng tiêu” là bịnh ở Phế ; “Trung tiêu” là bịnh ở Tỳ ; “Hạ tiêu” là bịnh ở Thận.
Năm chứng lâm (141) là : khí lâm, huyết lâm, lao lâm, sa lâm, cao lâm.
Năm chứng trĩ (142) là : tẫn trĩ, mẫu trĩ, mạch trĩ, huyết trĩ, trường trĩ.
Năm chứng tý (143) là : bì tý, cơ tý, mạch tý, cân tý, cốt tý. Lại có các chứng : hành tý, thống tý, trước tý, va chu tý (144).
Hành tý là chứng đau chạy chỗ này qua chỗ khác.
Thống tý là chứng gân xương co kéo mà đau nhức.
Thướng tý là chứng đau cố định một chỗ.
Chu tý là chứng đau nhức toàn thân.
Thận truyền hàn sang Tỳ, thì thành ung nhọt, ít khí.
Tỳ truyền hàn sang Can, thì thành ung nhọt, co gân.
Can truyền hàn sang Tâm, thì thành chứng phát cuồng, trong ngực nghẽn tắc.
Tâm truyền hàn sang Phế, thì thành chứng phế tiêu. Phế tiêu là chứng uống nước một phần, đi đái ra hai phần, chết không chữa được.
Phế truyền hàn sang Thận, thì thành chứng dũng thủy (145). Dũng thủy là chứng ấn vào bụng không rắn, do thủy khí chứa đọng ở đại trường ; đi nhanh thì có tiếng ọc ạch, như nước đựng trong cái túi, đó là bịnh thủy khí.
Tỳ truyền nhiệt sang Can, thì thành chứng kinh sợ, đổ máu mũi.
Can truyền nhiệt sang Tâm thì chết.
Tâm truyền nhiệt sang Phế thì thành chứng cách tiêu (146)
Phế truyền nhiệt sang Thận thì thành chứng nhu xi (147)
Thận truyền nhiệt sang Tỳ thì thành chứng hư tổn ; nếu lại đi lỵ thì chết không chữa được.
Bào cung truyền nhiệt sang Bàng quang thì đái không thông hoặc đái ra máu.
Bàng quang truyền nhiệt lên Tiểu trường, thì đường ruột nghẽn tắc, đại tiện không thông, nhiệt khí bốc lên miệng là lở loét.
Tiểu trường truyền nhiệt sang Đại trường, thì thành chứng phục giả, chứng trĩ (148)
Đại trường truyền nhiệt lên Vị, thì thành chứng ăn nhiều mà người lại gầy, gọi là chứng “thực diệc” (149)
Vị truyền nhiệt sang Đảm, cũng thành chứng thực diệc.
Đảm truyền nhiệt lên não, thì trong sống mũi cay rát mà thành chứng “tỵ uyên”, tức chứng nước mũi đục chảy ra không ngừng (50)