HUYẾT TIỂN (máu vọt ra)

Lỗ chân lông chảy ra một tia máu như tên bắn ra, nên gọi là huyết tiển, do tâm phế hỏa thịnh bức bách theo lỗ chân lông bắn ra, phép chữa nên tnanh tâm hỏa để trị nguồn gốc, dùng Lương huyết địa hoàng thang gia Bồ hoàng. Lại nên tả phế hỏa để thu liễm khí của bì mao, để cho lỗ chân lông không chảy ra thì huyết chỉ đi, dùng Tả bạch tán gia Sinh địa, Thuyền thoái, Bách hợp, Ngũ bội tử, Hoàng cầm, Bồ hoàng, Hạnh nhân, Bạch cập. Kiêm trị tâm phế thì dùng Sinh địa hoàng tán. Khi huyết ra nhiều quá bất tỉnh nhân sự, thì không khác gì chứng thổ nục, bị huyết thoát khí tán, nên dùng Độc sâm thang gia Phụ tử, Bồ hoàng, Đương quy. Các bài như : Bổ huyết thang, Thập toàn đại bổ cũng nên tùy nghi sử dụng. Phép ngoại trị, lấy nước trộn Đào hoa tán rịt vào chổ chảy máu là cầm được ngay, hay dùng mực tàu thứ thiệt mài với giấm mà bôi vào, hay dùng Thạch khôi tán hoặc Hoa nhị thạch tán mà bôi cũng được.

2.HUYẾT CHÍ (Mục ruồi máu).

Huyết chí mới khởi hình như nốt ruồi lớn dần lên như hạt đậu, khi vỡ ra chảy máu nhiều và nước, đây là bởi can kinh vô hỏa uất vào huyết ngưng tụ lại mà sinh ra, bên trong uống Đan chi tiêu dao tán, Lương huyết đại hoàng thang.
Khi vỡ ra chảy máu, dùng Hoa nhị thạch bôi vào, khi máu đã cầm rồi dùng Điền hoa tán bôi vào chỗ khô, rồi dùng cao sinh cơ mà dán. Khi chưa vỡ ra, chưa chảy máu, xưa không có phép trị, tôi dùng Manh trùng tán nhỏ hòa với giấm mà bôi, uất kim, Tam lăng mài với giấm mà bôi, Hổ phách thứ thiệt sát cho nóng, mỗi ngày vài lần.

3. HUYẾT TAO (Gãi chảy máu)

Ghẻ lở, vết máu, vẩy máu tất cả các chứng da bị gãi đỏ lên đều gọi là huyết tao, đều do phong hỏa quấy nhiễu huyết. Hỏa nhiều thì nổi mụn đóng vảy, phong nhiều thì sinh trùng, sinh ngứa. Hỏa nhiều mà đỏ đau, nên dùng Lương huyết địa hoàng thang gia Kinh giới, Thuyền thoái, Hồng hoa, Hạnh nhân. Phong nhiều thì ngứa, dùng Hòa huyết tiêu phong tán. Biết được bệnh huyết tao, thì tất cả các chứng Hỏa du đan, Tất san, Phong đan, các phép chữa đều không ngoài phép này, kiêm nóng thì sắc trắng hay chảy nước vàng, theo hai phương trên mà gia Thương truật, Xích linh, kiêm lạnh thì xanh xám, sưng rắn gia Quế chi tiêm, ngoài dùng Ngân hoa, Trần ngải, Xuyên tiêu muối nấu nước mà rửa, rồi dùng Đại phong đan hòa với dầu mà sức.

4.SANG HUYẾT (Huyết mụn nhọt)

Sang là huyết ngưng kết lại mà thành, hay là do lạnh mà đọng hay do nóng mà kết, hay do phong mà sưng, hoặc do thấp mà uất. Đều là huyết ngưng tụ lại mà thành ra. Bệnh mới có thì nên tán huyết, huyết tán thì hàn nhiệt phong thấp đều không có chỗ sót lại, tiếp theo đó là điều nung hóa độc, đây tức là mục Thổ nung đã nói trước rồi, ứ huyết hóa nung, trị nên khai thác bên trong (thác lý) ra để khí thuốc ra đến mụn, để nấu huyết thành nung (mủ). Vì sang là bởi huyết kết mà thành ra, nung, thành ra cũng do bởi huyết hóa ra. Tại sao huyết hóa thành mủ, đó là bởi khí nó nấu huyết mà hóa ra thành mủ vậy. Khí tức là thủy, vì khí là thủy, cho nên huyết theo khí hóa cũng biến làm thủy, không gọi là thủy mà gọi là nung, vì bởi huyết hóa ra so với thủy thì đặc hơn. Khi độc làm mủ thì không công vào trong tạng phủ, đến khi huyết đã hóa thành mủ rồi, tuy rằng khí thực cũng theo mủ mà chảy thấm ra, chuyển thành khí hư vậy. Phép chữa nên cố nguyên khí để đại bổ khí, việc này đối với các huyết chứng này không có can thiệp, song cùng là bệnh huyết cho nên kiêm bàn đến để cùng nhau sáng tỏ. Vì khí bức huyết thời nghịch lên làm thổ nục, huyết bí thì ngừng lại làm ung sang. Khí bức huyết thì nên phá khí để hòa huyết, huyết trệ khí thì nên phá huyết để hòa khí, cho nên thổ nục thì nên bổ huyết, huyết vựng thì bình khí, ung sang thì nên bổ khí, khí vượng thì huyết thành vậy. Đến lúc ung sang đã vở rồi thì trong mình đã có nơi phá tổn, khác xa với chứng sáng bế. Thử xem việc châm thích, thích huyệt Kỳ môn để tả can, thích huyệt phế du để tả khí của ngũ tạng. Phương chi lỗ ung sang đã vỡ rất lớn thì biết rằng đại tả khí bên trong đến mức nào, cho nên sau khi mụn đã vỡ rồi nên đại bổ nguyên khí. Không giống như chứng thổ nục là khí thịnh huyết hư, chỉ nên trị huyết để bình khí, không nên bổ khí để động huyết vậy. Nhưng sau khi mụn ung sang đã vỡ rồi, cũng có người ứ nhiệt chưa được thanh cũng không được vội vàng dùng thuốc ôn bổ. Sau khi thổ nục rồi cũng có người nguyên khí đại hư, cũng không được câu nệ mà dùng thuốc thanh lương, cho nên thổ nục gia huyết mất mà khí cũng theo mà mất, cùng với chứng dương khí không thể nhiếp giữ được huyết thì những phương như Thập toàn, Dưỡng vinh, Quy tỳ, Sâm phụ cũng nên dùng. Sang gia sau khi vỡ rồi thì các phương thuốc đó là cần dùng, nhưng cũng có người dư độc chưa hết, những phương trên lại kỵ dùng, thầy thuốc không nên chấp nhất. Phép nội trị các chứng ung sang mới khởi lên sưng rắn đều nên tán huyết. Dùng Tiên phương hoạt mệnh ẩm. Sợ lạnh không mồ hôi gia Ma hoàng. Phát sốt tâm phiền gia Hoàng liên, Thạch cao. Đại tiện táo gia Đại hoàng. Mụn sang cứng rắn, tối đau là âm chứng kết đọng, lại không có khí để phát ra. Gia Quế chi tiêm, Khương, Táo. Mụn sang bằng phẳng không cao lên, cùng là tả tán không gọn gàng, sợ rằng độc công vào trong, gia Hoàng kỳ, Đại táo, Sinh khương. Vì huyết đọng ở khí phận, nếu huyết hành thì khí hành, cho nên lấy phương phá huyết làm chủ, đó là phép khéo điều khí vậy. Còn như chứng thổ nục đó là khí vượt lên trong huyết phận, khi khí xuống thì huyết xuống, nên phá khí làm chủ. Chứng sang nên dùng Thác lý tiêu độc tán làm chủ, vì huyết đã đọng lại mà không hóa, phải bổ khí để đánh nhau với huyết, làm cho huyết hóa thành nung để chóng vỡ mủ, vì sang là bệnh huyết ngưng ở khí phận, chỉ sợ khí không đủ để hóa ra nung, cho nên bổ khí để chế huyết. Còn như chứng thổ nục thì khí lấn lên huyết phận, chonên chỉ sợ khí nghịch mà huyết lên, cho nên bình khí để điều huyết, cùng với chứng sang không giống nhau. Khi sang đã vở rồi là thuộc về hư tổn, nên có nguyên khí để ích khí, dùng Nội bổ hoàng kỳ thang làm chủ. Xét rằng nung khô (vỡ ra không nhiều mủ) là vì khí hư, vì khí là nước, khí không đủ nên thủy ít mà khô, mệt khi khí đã không đủ thì không thể thúc mủ ra ngoài, nên lưu đọng ở trong mà kết thành còi (ngòi) mủ, dùng Hoàng kỳ kiến trung thang gia nhiều Ngân hoa, Xích đậu nha và Đương quy.
Nếu mủ trong loãng là huyết hư, mủ là huyết hóa ra, huyết ít thì mủ trong loãng, dùng Đương quy bổ huyết thang, Chích cam thảo thang gia Hoàng kỳ, hay Nhân sâm dưỡng vinh thang. Sau khi mụn đã vỡ rồi là thuộc hư, nhưng cũng có khi ứ độc chưa hóa hết cũng không được tuân bổ để lưu đọng lại, trong uống Thác lý tiêu độc tán. Ngoài dùng Ô Kim cao để hóa mủ đi. Đây như chứng thất huyết trong hư có ghẻ ứ cũng không được đóng cữa nhốt giặc, vỡ lâu rồi nhưng vẫn còn ngòi mủ cũng cần dùng Ô kim cao để hóa đi, nếu chỉ dùng thuốc lên da non gom miệng thì độc ở trong không công phát ra thì không thể khỏi được. Đây giống như chứng can huyết lao, trong có can huyết, nếu không khử bỏ can huyết đi thì huyết mới không thể sinh ra được, đều là những chứng trong hư có ghé thực, trị huyết thì hư hư bổ hư thì thực. Thực rất khó trị liệu, chỉ nên vừa bổ vừa công để tận nhân sự. Lại nói thêm bệnh thổ huyết đã cầm được rồi, nên bổ huyết để điều khí, ung sang vỡ rồi nên bổ khí để sinh huyết. Bệnh thổ nục ở huyết phận khí thực mà huyết hư vậy. Cơn bệnh ung thư ở khí phận huyết thực mà khí hư vậy. Phép ngoại trị tiêu sưng, nên dùng Viễn chí cao, dùng Viễn chí nấu với rượu giã nhừ mà rịt, hay Kim hòang tán. Hóa mủ khử ứ nên dùng Ba đậu sao đen nghiền nát ra mà điểm vào gọi là Ô kim cao hay là Điền hoa nhiên tử củng tốt. Sinh cơ dùng Nhũ hương, Một dược tán nhỏ gọi là Hải phù tán, lại gia Trân châu hay Hóa hủ sinh cơ tán. Phép trị ung sang nói đây cũng chưa hết, chỉ là đem chứng ngoại tà để khám chứng bên trong. Khi biết rõ huyết của ung sang thì huyết của chứng thổ nục càng rõ hơn.

5.SANG HUYẾT:(Vết thương chảy máu)

Vết thương chảy máu khác hẳn chứng thổ nục, vết thương là người bình thường bị thương mà ra máu, đã không có bệnh thiên âm hay thiên dương. Cho nên chỉ cần chỉ huyết, chỉ được một phần huyết là giữ được một phần mệnh, sự chỉ huyết cũng không phận biệt âm dương, có khi dùng thuốc mát rịt lên để chỉ huyết như Đào hoa tán, có khi dùng thuốc nóng rịt lên để chỉ huyết như làGừng sao đen, không giống như bệnh thổ nục vì thiên âm thiên dương, cho nên phép chỉ huyết của bệnh thổ nục cần trị bệnh khí làm chủ. Bệnh khí lui thì thổ nục cũng lui, khác hẵn với bệnh vết thương chảy máu. Song bị thương hai ba ngày sau thì cũng hơi giống với chứng thổ nục, nếu có ứ huyết sưng đau thì phải tiêu ứ huyết, miệng vết thương bôi Hoa nhị thạch tán, chỗ sưng dùng Nhũ hương, Một dược, Xạ hương, Tam thất, Thông bạch giã ra mà rịt, ứ huyết tiêu tán thì đau sưng tự hết, bên trong uống Lê đồng hoàn. Bị vết thương mất máu quá nhiều hại đến âm phận, chứng hiện ra tâm phiền, phát sốt, miệng khát, phép chữa nên bổ khí để sinh huyết, khi huyết đủ thì tân dịch sinh ra thì không khát vậy. Dùng Thánh dũ thang gia Táo nhân, Hoa phấn, Nhi trà, Nhũ hương, Một dược, Cam thảo. Đây là chứng thổ nục, nên bổ huyết để nén khí, vì chứng ở bên trong là khí ở huyết phận, không nên để khí lấn huyết vậy. Vết thương là huyết ở khí phận cho nên phải bổ khí để sinh huyết, khí suốt ra chổ đau thì mới sinh cơ, khí đầy ra ngoài da thì huyết mới hành được. Cùng với phép trị nội chứng không giống nhau. Có người khí hư Nên dùng các thang Bát trân, Dưỡng vinh, Sâm phụ để cố khí mà cố huyết. Chứng thổ nục cũng có khi dùng những thuốc này, song huyết của vất thương ở khí phận, bì phu thì chủ ở vệ khí, khi bì phu bị phá thì khí tiết lậu đi trước, cho nên lấy bổ khí làm chủ. Còn chứng thổ nục ở torng thuộc về âm phận, huyết thương mà khí chưa thương, cho nên lấy bổ huyết làm chủ, thầy thuốc nên phân biệt trong và ngoài mà biết được trong giống nhau mà có khác nhau, trong khác nhau mà có giống nhau mới được vậy. Khách hỏi: “vết thương có gì hay cảm mạo phong”. Đáp rằng: người ta mà được giữ gìn ở ngoài đều nhờ vệkhí, mà vệ khí sinh ở Bàng quang, suốt ra Tam tiêu ra ngoài theo cơ nhục, ra bì mao, như nhà có tường kín để giữ, ngoại tà không thể xâm nhập vào được, nay da thịt bị phá vỡ thì cũng như tường có lỗ, vách có thủng mà mới trộm vào vậy. Cho nên đao thương thì hay ngoại cảm, bệnh thấy phát sốt, nhức đầu, hàm răng cắn chặt, thổ đàm, run giật, uốn cong, uốn ván đều là vệ khí làm bệnh, chỉ khác là có thêm chứng xuất huyết mà thôi, phép chữa xin nói rõ ở sau. Không có hãn là vì phong ghé hàn, bì mao bị bế lại dùng Tiểu sài hồ thang gia Kinh giới, Phòng phong, Tử tô vì Tiểu sài hồ thang là phương thuốc trị nhiệt nhập huyết thất. Phàm ngoại tà can phạm vào huyết phận, thang Tiểu sài hồ đều có thể sơ lý đi mà hòa giải, gia những thuốc chuyên trị vệ khí thì thiên trị về vệ khí mà chủ về phát hãn vậy. Phép chữa phá thương phong như thế thì Thất huyết gia mà người hư yếu bị cảm thương cùng là phép trị sản hậu, Thương hàn đều có thể xem đó mà biết được. Nếu vết thương chảy máu quá nhiều thì không nên phát hãn nữa, nên dùng Đương quy địa hoàng thang tức làTứ vật thang gia những thuốc khu phong để bổ huyết khu tà. Thất huyết gia thổ huyết quá nhiều cùng với sản hậu mất máu quá nhiều mà lại mắc chứng cảm mạo, phép trị với đây không khác nhau đều nên trước tư dưỡng huyết để giúp nguồn suối của mồ hôi sau tuyên khí để giải ngoại tà. Có hãn là phong ghé nhiệt (vô hãn là phong ghé hàn) bốc ra ở khoãng da thịt, phép chữa nên thanh tán nhiệt đi cùng Đương quy khung hoàng thang gia Cương tằm, thuyền thoái. Nếu kiêm có chứng tiện bí gia Đại hoàng. Thương hàn luận có nói: “Phát sốt ra mồ hôi dùng Bạch hỗ thang, táo kết dùng Thừa khí thang. Thầy thuốc biết được ý mà biến hóa ra thì có nhiều pháp môn. Bị vết thương là bệnh huyết ở khí phận, cho nên tà ở biểu thì theo khí phận để thoát ra, tà ở lý thì theo khí phận để hòa giải, kiêm dùng huyết dược để mà chữa huyết đều mà khí cũng đều, khí đều mà huyết càng yên vậy.
Thất huyết gia là bệnh khí ở trong huyết, cho nên có cảm mạo thì chỉ đều huyết, mà kiêm dùng thuốc khí phận để giúp cho, ở đây giống mà không giống. Phàm bị vết thương mà cảm mạo phong, nên dùng Cương tàm, Thuyền thoái, Thông bạch giã đi mà rịt, có thể tiêu phong khu sưng. Vết thương mà vỡ loét ra thì trị với ung sang giống nhau, đây tức là trong điều thổ nói rằng: ứ huyết biến hóa thành nung, vậy huyết đọng không tan bị khí nấu nung mà hóa thành mủ, huyết là âm, khí là dương, âm theo dương mà hóa, cho nên mủ giống như nước, vì khí hóa ra tức là nước vậy, mà lại không phải là nước vì huyết chất hóa ra vẫn không mất bản chất của huyết, cho nên keo đặc, thực ra là thủy với huyết giao nhau mà thành hình vậy, cho nên thuốc khử nung tức là thuốc khử thủy, mà thuốc rút mủ tức là thuốc khô thủy, trong uống Bát trân thang gia Ý dĩ, Mộc thông, hay /Lục quân tử thang gia Đương quy, Xích đậu nhà ngoài rịt hóa hủ sinh cơ tán, rút mủ thì gia Long cốt, sinh cơ thì gia Trân châu. Đây là đem huyết của vết thương cùng với huyết của chứng thổ nục so sánh nhau mà bàn cho rõ nghĩa, cần cho huyết chứng được minh bạch. Còn về phép chữa vết thương chưa nói rõ ràng song lý đã đủ, thức giả suy xét ra.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading