BINH LANG
“Binh Lang tân sắt, tánh ôn vô độc,
Phá khí tiêu tích, trừ trùng chướng ngược”
BIỆT DANH
Đại Phúc Tử, Nhơn Tần, Binh Lang, Nhơn Lang, Tân Môn
HÌNH LOẠI
Là hột trái Cau chín khô, loại hột càng nhỏ càng tốt. Nên có tên là Kê Tâm Binh Lang.
CÔNG DỤNG
Chuyên vào Trường Vị để trị chướng lệ ở vùng lồng ngực.
TÁNH VỊ
Vị cay,chát, khí nồng, tánh ấm, không độc.
Trang 38
CHỦ TRỊ
Là thuốc cần thiết đe tiêu tích thông trệ, lợi thủy, sát trùng, trục chứng tích ở Trường Vị và công phá ngăn cứng, trướng đầy trên tận lồng ngực cho dẫn xuống dưới. Trị tích tụ, kiết lỵ, bắt rặn dữ, bệnh khước khí, sán khí, bệnh đàm tịch ở ruột làm thủy thũng. Cho nên sách thường nói không khối cứng nào không phá vỡ, không trướng nào không tiêu, không thức ăn nào không hóa, không đàm nào không lưu hành, không nước nào không trục được, không trùng nào không sát, không tiện bí nào không khai.
KINH NGHIỆM
Binh lang có thể dùng làm trụy giáng tất cả các khí xuống đến cùng cực, nên trị bệnh kiết lỵ mắc rặn như thần. Trường họp khước khí xung tâm làm ngất xỉu dùng 12 hột Kê Tâm Binh Lang nghiền nhuyễn, chia làm hai lần uống với nước đồng tiện còn nóng. Bệnh sán khí uống với rượu ấm. Trúng độc thuốc lá thì uống với nước sôi. Vì nó có khả năng chống Sơn Lam chướng khí, nên người ta dùng để nhơi trầu (Cù Điệp). Nhưng nếu không phải vùng có chướng khí mà dùng thường rất có hại vì tán khí. uống sống thì khai thông đại tiện, uống chín quá thì sanh táo bón.
CẤM KỴ
Người khí hư, Tỳ vị hư, âm dương hư, mạch hư đều kỵ.
DỤNG LƯỢNG
Từ 1 đến 2, 3 chỉ +
PHỤ LỤC
Binh Lang trị lãi kim rất hay, nhưng phải làm thuốc bột dùng sống.
Binh Lang (Hạt Cau)
Written by