BỆNH ĐẬU MÙA,KHÔNG PHẢI DO THAI ĐỘC

Bệnh đậu mùa kể từ đời Hán đến nay, những người viết sách và lập ra phương thang nhiều không kể,xiết. Đại để là đều phân ra chứng thuận, chứng nghịch, chứng đậu hiểm. Lại phân ra nạng nhẹ, chứng sông và chứng chêt, nhưng lại chẳng có một ai nói rõ được cái nguyên nhân nguồn gốc của bệnh

Cho nên những người đời sau, có người thì dùng bài “Bảo nguyên thang” vì trọng dụng Hoàng kỳ và Nhân sâm. Có người thì thích dùng thanh lương tả hạ mà trọng dụng vị Đại hoàng và vị Thạch cao. Có-người thì đề cao phép thanh lương giải độc mà trọng dụng vị Tế .giác và •vị Hoàng liên. Nguồn gốc của bệnh đậu mùa thì chỉ có một loại, nhưng đường lối dùng thuốc lại nhiều ngả, không ai giốhg ai.

Nếu chỉ gặp những chứng đậu mùa thuận hoặc hiểm, thầy thliôc chỉ cần chẩn đoán xem thể trạng của đứa bé khỏe hay yếu, sau đó mới quyết định dùng thuốc bổ hay tả, lại cho uông kèm các loại thuôc mát thì đều có hy vọng sống.

Chỉ duy nhất có một nghịch chứng của bệnh đậu mùa là vô phương điền trị, mà cho rằng sống chết là do sô” trời. Đó là do không biết được nguồn gốc của bệnh để mà điệu tiị vậy!

Có người hỏi tôi rằng:

  • Nếu như cổ nhân không biết được nguồn gốc của bệnh đậu mùa, thì tại sao khi thấy bệnh nhân bị mắc nghịch chứng đậu mùa thì cổ nhân lại biết ngay là mấy ngày nữa thì bệnh nhân sẽ chết?

Tôi trả lời rằng:

  • Như thế không có nghĩa là cổ nhân biết được nguồn gốc của bệnh, mà khi xem đậu mọc đã dầy, thì cổ nhân sẽ biêt ngày nào thì đậu bắt đầu mọc? Ngày nào thì đậu sẽ mọc tới đâu? Ngày nào thì màu sắc của đậu ra sao? Ngày nào thì đậu sẽ biên chứng như thế nào? Nếu mà điều trị không khỏi thì tới ngày nào đó tết là phải chết. Sở dĩ cổ nhân biết được chứng đậu nghịch ngày nào sẽ chết là do như vậy. Chứ nếu mà đã biết được nguồn gốc của bệnh, chẳng lẽ lại vô phương cứu chữa sao?

Có người lại hỏi tiếp:

  • Nếu cứ theo như lời ông nói thì khi bệnh nhân mắc chứng đậu nghịch có còn cứu được nữa không?

Tôi trả lời rằng:

  • Chứng đậu hiểm, cứ bốc thuốc là khỏi liền tay, không cần phải bàn đến nữa. Chỉ còn nghịch chứng, tuy vậy vẫn có nguồn gốc của nó, nếu đã biết được nguồn gốc của nó thì tại làm sao lại không cứu được? Như tôi vẫn thường chữa chứng này, vì độc khí của đậu bế kết lại cho nên đậu không mọc ra được, toàn thân mụn đậu dày đặc như xác trứng tằm, từng mảng kết lại sần sùi như da rắn, đậu mọc mà người không thây nóng, trên da nhìn thấy từng chấm màu tím đen, khắp thân đậu mọc lan tràn, không một chỗ nào hở, mụn đậu có nhiều màu tím, trắng, xám mọc lẫn lộn với nhau. Mụn đậu mọc khắp cả đầu mặt và quanh miệng, quanh cổ cùng hai bên mahg tai, không chừa một chỗ nào. Da thịt không sưng, khắp thân nổi mụn nước nhưng không thể chín thành mủ hoặc khô thành vảy được. Cứ thấy những chứng như thế là sau đó bệnh nhân thường thường sẽ bị lên cơn co giật, cửu khiếu chảy máu tươi, ho khạc giọng khàn, uống nước là sặc, sáu bảy ngày sau thì toàn thân phát ngứa, gãi rách da rách thịt mà không thây máu. Bảy tạm ngày sau thì bắt đầu bị tiêu chảy, ăn uống không được. Tới lúc đà nguy cấp thì đầu cất không nổi, chân đĩ* không vững, hai mắt trợn ngược, co cứng uô’n ván, đó đềuTà các biểu hiện nghịch chứng của bệnh đậu mùa.

Khi mới thây các triệu chứng đó, cần phải phân biệt cho rõ ràng đó là chứng thuộc hư hay thực thì mổi mong’có cơ may mà sống SÓL Khi đã rõ được những điều đó rồi thì mối biết là tôi đã bổ khuyêt được những điều còn thiếu sót của người xưa mà giúp được cho người đời nay tránh được những cái khó khăn và nguy nan. Nêu không biết rõ được những điều đó thì mọi người lại cho

tôi là cuồng ngôn vọng ngữ mà không biết rằng đó chẳng phải là những lời của kẻ cuồng ngôn vọng ngữ, mà là lời của kẻ biết được nguồn gốc của bệnh nghịch chứng đậu mùa.

Không những cỉử riêng các y gia nghị luận mà cho rằng bệnh đậu mùa đều do thai độc. Các sách đó còn nói: Từ đời Hán trở về trước không có’bệnh đậu mùa, rồi lại nói rằng bệnh đậu mùa là do thai độc, nếu thế thì những người từ đời Hán trở về trước không phải cũng đều là do cha sinh mẹ đẻ hay sao? Cái lý Idận đó khi nghĩ ra thì thày rất đáng buồn cười. Nếu như cứ theo cái íý luận ấy của cổ nhân thì:

  • Có người cho rằng nguyên nhân của bệnh đậu mùa là do thai độc tàng chứa trong tạng phủ. Vậy thì tại sao ưước khi phát ra bệnh đậu mùa, tạng phủ vẫn bình an’vô sự mà không hề có biểu hiện gì của bệnh tật?
  • Có người thì cho rằng bệnh đậu mùa là do thai độc tàng chứa chất độc ở trong cơ nhục. Vậy thì tại sao khi bệnh đậu mùa chưa phát, thì ỏ ngoài da lại không thấy có lở loét và mụn nhọt?
  • Có người thì cho rằng bệnh đậu mùa là do thai độc tàng chứa ở trong xương tủy, rồi nhân lúc do sợ hãi quá mà ngã lăn ra, hoặc do thương thực, hoặc do cảm mạo…v…v… làm động đến cái độc mà cái độc đó phát ra.

Nếu nói như thế thì lại giô’ng như là do người bệnh sơ ý, vì không cẩn thận mà sinh ra bệnh đậu?

Tôi thầm nghĩ, khi bệnh đậu mùa đang lan tràn, không riêng gì chỉ có một người bị bệnh đậu mùa mà ít ra thì là cả một vùng bị bệnh. Nếu nhiều thì bệnh đậu mùa lan tràn ra khắp mấy tỉnh, chẳng lẽ tất cả số người mắc bệnh trong khắp mấy tính đó đều là những người sơ xuâ’t? Đều là những người không cẩn thận? Cái lý luận này vì thế suy ra thật là vô lý.

Lại xét những người đã được chủng đậu ơ) thì không cần nói tới là đậu mọc nhiều hay ít, mà tất cả hầu như không có một trường hợp nào là đạu mọc không thuận cả. Nếu là do thai độc thì cái độc đó phải có nặng có nhẹ, độc nặng thì bệnh đậu đó tất phải là chứng đậu hiểm, cớ sao lại không hề có một bệnh nhân nào bị chứng đậu không thuận? Từ đó mà suy ra tại sao mọi người cứ quen gọi chứng đậu là “thai độc” mà không thể bỏ hai chữ đó đi? Là vì mọi người đâu có biết rằng bệnh đậu mùa hoàn toàn không phải là do thai độc, mà chính là do trọc khí có ở trong máu của bào thai.

Đứa trẻ nằm trong bụng mẹ, lúc đầu là do một điểm chân tinh ngưng kết mà thùnh thai, sau đó dần dần sinh ra tạng phủ, rồi đến cơ thể và tay chân. Tất cả đều nhờ ở khí huyết của người mẹ mà trưởng thành. Huyết trong bào thai mà có trọc khí, sau khi sinh ra sẽ tàng chứa ở trong vinh huyết, gặp khi thời tiết thay đổi, bệnh dịch phát sinh, tiếp xức với trọc khí của ôn dịch. Trọc khí đó liền theo miệng và mũi mà vào khí quản, rồi từ khí quản mà vào huyết quản, công trục trọc khí ở trong huyết theo bì phu ra ngoài. Sắc của mụn có màu hồng như hoa, vì thế mà còn gọi là bệnh “thiên hoa”, hình tròn như hạt đậu cho nên gọi là bệnh đậu. Nói tóm lại, nếu gặp ôn dịch nhẹ thì ôn dịch sẽ theo mụn đậu mà ra ngoài. Như vậy cũng có nghĩa là nếu mụn đậu mọc được’thì chứng đậu đó là chứng thuận.                                                                                 M

Gặp ôn dịch nặng, ôn dịch sẽ lưu lại ỡ trong, không thể theo mụn đậu mà ra ngoài, thì khi đậu mọc, sẽ có những triệu chứng của bệnh đậu hiểm.

( ’ Qua đây ta sẽ thấy người phương đông đã biết chủng đậu để gây miễn dịch đối với bệnh đậu mùa từ mây trăm năm nay.

Nếu gặp chứng ôn dịch rất nặng, cái độc của ôn dịch thiêu đốt ở trong huyết, huyết bị thiêu đốt thì tất sẽ ngưng lại. Huyết đã ngưng thì tất có màu tím, huyết đã chết thì sẽ có màu đen. Màu của mụn đậu mà tím và đen thì đúng ỉà chứng đậu hiểm. Huyết chết sẽ làm cản trở bế tắc kinh mạch, cái độc của ôn dịch không thể theo bì phu mà được tông ra ngoài, vì thế sẽ quay ngược trở vào mà tân công tạng phủ. Tạng phủ bị hỏa độc nung nấu, chọ nên vì thế mới sinh ra các “nghịch chứng” (*’của bệnh đậu mùa.

Trong các sách viết về bệnh đậu thường nói chứng “nghịch đậu” là do một kinh nào đó bị “nghịch đậu”. Nhưng thực ra không phải một kinh nào đó bị “nghịch đậu”, mà là một kinh nào đó bị nhiễm ôn độc. Đậu thuận hay nghịch là do bị nhiễm ôn dịch nhẹ hay nặng, vì thế điều trọng yếu của đường lối chữa bệnh đậu mùa là làm cách nào trừ được ôn độc. Ôn độc không trừ được thì dù thây đậu mọc thưa thđt, tưởng ỉà nhẹ nhưng cuối cùng bệnh nhân cũng sẽ chết. Ôn độc mà đã trừ được thì cho dù nhìn thây đậu mọc dày đặc, tưởng là bệnh nặng nhưng lại không đến nỗi chết.

Trong các sách viết về môn chữa bệnh đậu mùa từ trước đến nay, chỉ bàn về cách chữa thai độc mà không biêt cách chữa ôn độc. Dù cho có biết chữa ôn độc, thì cũng không biết sào huyệt của õn độc là huyết. Nếu đã biết phân biệt rõ bệnh nặng hay nhẹ? Huyết lưu thông hay ngưng trệ? Khí hư hay thực? Thì sẽ lập tức cứu được chứng nghịch đậu dễ như trở bàn tay. Có thể nói ỉà nếu biết được yếu lĩnh này thì chỉ cần một câu như thế là đủ.

r) Nghịch chứng có nghía là đậu mọc không thuận, thay vì đậu phải mọc ra ngoài thì đậu lại đi ngược vào trong tạng phủ, vì thế cho nên mới gọi là “nghịch”.

BÀN VỀ CHẤT DỊCH CỦA ĐẬU KHÔNG PHẢI DO
HUYẾT HÓA RA

Đậu khi mọc thì có màu đỏ, năm sáu ngày sau chợt hóa thành châ’t nước trong, sau đó châ’t nước trong đó biến ra chất nước vẩn đục, vài ngày sau thì thứ nước vẩn đục đó hóa ra chât mủ có màu vàng, cuối cùng thì kết thành vảy.

Cổ nhân gọi cái thứ nước đậu đó là do huyết hóa ra. Nếu là do huyết hóa ra thì màu huyết đỏ có thể sẽ biến thành màu trắng. Nay hãy xin lây một chén huyết để thí nghiệm, nếu dùng phèn chua để đánh vào trong huyết hoặc nấu huyết lên thì liệu huyết có thể hóa ra nước trong, nước đục, nước có màu trắng hoặc mủ vàng được không?

Bệnh đậu vốn là do trọc khí có ở trong huyết mà nằm trong huyết quản, gặp dịch lây truyền mà tiếp xúc với trọcTchí của ôn dịch, theo miệng mũi mà vào khí quản, rồi sau đó xâm nhập vào huyết quản, đem huyết và trọc khí ở trong huyết quản cùng tân dịch trong khí quản, đuổi cái độc đó theo lồ chân lông mà thoát ra ngoài, cho nên mụn đậu mới có hình tròri và màu đỏ. Năm sa ụ ngày sau, huyết ở trong mụn đậu lại trở về huyết quanr vì thế trong mụn đậu chỉ còn lại ưọc khí và tân dịch. Tân dịch trong, vì thê gọi là “thanh tương”. Thanh tương bị ôn độc thiêu đốt thì đặc lại mà có màu trắng, cho nên gọi là “bạch tương”. Bạch tương lại bị nung đốt nữa, vì thế càng đặc lại mà thầnh có màu vẩn đục, vì thế gọi là “hỗn tương”. Hỗn tương vẫn bị nung nấu thiêu đốt nữa mà đặc lại như mủ ở trong mụn nhọt, vì thế mà gọi là “hoàng nùng”. Hoàng nùng lại bị thiêu đốt nữa đến nỗi khô đi mà kết

thành vẩy. Trong mụn đậu không có nước là do huyết không trở về huyết quản, huyết không trở về được huyết quàn là do trong huyết quản có ôn độc thiêu đốt, khiến cho huyết ngưng trệ lại mà cản trở đến sự lưù thông của huyết. Nếu như làm thế nào mà cho thông được sự ứ trệ đó cua huyết quản, thì cớ sao người bệnh còn có thể bị mắc những chứng bệnh do huyết không lưu thông được nữa?

BÀN VỀ KHI ĐẬU MỌC cứ UỐNG NƯỚC LÀ SẶC

Đậujnọc trong vòng khoảng 4-5 ngày, cho đến ngày thứ 7 hoặc thứ 8 thì có hiện tượng cứ uông nước vào là sặc.

Cổ nhân cho rằng đó là do độc hỏa ủng trệ ở yết hầu rồi cho chứng đó là thuộc vào những chứng không thể chữa được.

Tất cả là do cổ nhân không hiểu rõ ràng được cấu tạo của yết hầu và bản chất của hai đường khí môn ở bên trái và bên phải. Sau lưỡi là hầu, tức là khí quản. Sau hầu là yết, tức là VỊ quản. Ở hai bên phía trước của yết, phía sau của hầu có một chỗ lõm vào, có hai đường khí quản gọi là tả khí môn và hữu khí môn. Cuông lưỡi có một phiến màu ưắng dầy như đồng tiền gọi là hội yếm để che Phế qudn vă che phía ưên miệng của tả khí môn và hữu khí môn. Trong khi ăn uốhg, tới lúc nuốt thì hội yếm che kín Phế quản cùng tả khí môn và hữu khí môn, vì thế các thức ăn uống mới trôi qua được cổ họng để xuống dạ dày mà không bị lọt vào Phế quản cùng tả khí môn và hữu khí môn.

Hãy thử quan sát người ăn cơm, trong khi đang nuốt,-thức ăn vào cổ họng đang sắp tới yết hầu mà bỗng chợt vì lý do gì đó mà bật cười, khiến cho khí bốc mạnh, lên, hội yếm bất chợt mở

ra, lúc đó lại có một hạt cơm hoặc một giọt nước lọt vào tả khí môn hoặc hữu khí môn, khiến cho người đó bị sặc rồi hạt cơm giọt nước đó theo lỗ mũi mà bắn ra, như vậy đâ đủ chứng minh những điều như đã giải thích ở trên.

Nay do đậu độc thiêu đốt, huyết ở hội yếm bị ngưng lại, không thể che kín khí môn cho nên cứ uống nước vào là sặc. Ăn thì không sặc mà chỉ có uống nước thì mới sặc là vì cái khe hở của hội yếm đó chỉ hơi mở ra, nước thì lọt xuống được nhưng cơm thì không lọt xuông được. Nếu làm cách nào khiến cho hội yêm không bị ứ huyết nữa thì chứng sặc lự khỏi.

BÀN VỀ KHI ĐẬU MỌC ĐƯỢC 7 – 8 NGÀY THÌ
THẤY MỤN ĐẬU PHÁT NGỨA

Muôn biết tại sao mụn đậu phát ngứa thì trước tiên phải hiểu rõ bì phu. Bì là bì, phu là phu, không hiểu rõ bì píru thì làm sao mà biết được nguyên nhân của chứng mụn đậu tại vì sao lại phát ngứa?

Ví như người ta khi bị bỏng nước hoặc bị bỏng lửa, chỗ bị bỏng đó liền lập tức nổi lên một cái bọc nước mỏng như tờ giấy,» cái màng mỏng như giây đổ tức là phu. Bên ưong phi? mà bên ngoài của nhục (thịt) thì gọi là bì. Bị bệnh đậu 6-7 ngày thì ôn độc, trọc khí, tân dịch đều tụ hết vế bên ngoài của lớp bì, bên trong của lớp phu mà tụ lại ở trong mụn đậu. Chính khí người bệnh đã bị hư cho nên không còn đủ sức để’‘khiến cho chất dịch trong mụn đậu hóa mủ để kêt thành vẩy, dẫn đến tình trạng ôn độc bên ngoài thì không ra được khỏi lớp phu, bên trong thì không nhập được vào lớp bì. Cái độc đó của bệnh nằm bên ngoài lớp bì mà bên trong lớp phu cho nên vì thế mà gây ra ngứa ngáy.

Các y gia cứ tuân theo câu trong sách “Tô” vấn nội kinh” nói rằng “Chư sang thống dạpg (dạng còn đọc là dương) giai thuộc vu hỏa”, có nghĩa là các chứng mụn lở đau ngứa đều thuộc về hỏa, cho nên tùy tiện sử dụng các thuốc thanh lương là các vị thuốc mát để khắc phạt sinh khí, không những các chứng ngứa ngáy không khỏLmà lại làm tổn thương đến VỊ khí tức là cái khí tiêu hoiucủa dạ dày. Nhưng nếu lại chuyên dùng thuốc bổ khí thì khi càng bổ khí thì huyết càng ứ lại. Huyết đã ứ lại thì lại càng không đạt thấu tới được bì phu.

Lúc này phải dùng tới các bài thuốc bổ khí phá huyết để khai thôngTìuyết đạo. Khi mà khí đã thông đạt thẳng tới được bì phu thì chưa từng có trường hợp nào mà uống thuốc vào lại không khỏi được bệnh ngứa.

THÔNG KINH TRỤC ứ THANG

Bài thuốc này bất kể là đậu mọc chi chít dày đặc khắp đầu mặt hoặc mọc thành từng vầng từng phiến hoặc kèm với ban chẩn khắp người, nổi từng bọc nước, màu tím, xám hoặc đen. Tât cả những chứng người bệnh nôn khan, phát phiền nóng nảy, bứt rứt không yến, đêm ngày không ngủ, biểu hiện ra nghịch hình nghịch chứng…V…V… là đều do huyết bị ngưng trệ ở trong huyết quản. Tất cả mọi chứng đó đều nên dùng ngay bài thuốc này để chữa.

Trong bài thuốc này không dùng tới các vi thuốc quá nóng hoặc quá lạnh, không công phạt mà cũng không cho hạ, thật là một bài thuốc ổn đáng cực hay.

Công thức bài thuốc như sau:

Đào hhân 8 tiền (giã thật nhuyễn).

Hồng hoa 4 tiền.

Xích thược 3 tiền.

Xuyên sơn giáp 4 tiền (sao lên).

Tạo giác thích 6 tiền.

Liên kiều 3 tiền (moi bỏ hết ruột).

Địa long (bỏ đất ở trong ruột) 3 tiền.

Sài hồ 1 tiền.

Xạ hương 3 ly (bọc trong vải lụa).

Tất cả là một thang, sắc nước uống.

Nếu đại tiện khô táo thì gia Đại hoàng 2 tiền, khi thây đại tiện dễ đi rồi thì bỏ vị Đại hoàng đi mà không dùng nữa.

Nếu 5-6 ngày sau mà thấy mụn đậu đã có nước ưong hoặc có nước màu trắng thì bỏ Xạ hương mà thêm vào 5 ũền Hoànê kỳ, còn Xuyên sơn giáp và Tạo giác thích thì mỗi vị đểu giảm đi một nửa.

Tới 7-8 ngày sau thì Đào nhân và Hồng hoa đều cùng giảm đi một nửa, Hoàng kỳ dùng tới 8 tiền. ‘ .

Bài thuốc này là tiếu chuẩn để dùng cho đứa trẻ khoảng 4- 5 tuôi. Nêu như đứa trẻ mới 1-2 tuổi thì giảm đi một nửa. Nếu đứa trẻ đã 8-9 tuổi thì tăng lên một nửa.

Y phương ca quyết:

‘Thông kinh”: Giáp, Tạo, Xạ hương, Long,

Trục ứ Xích thược, Đào dữ Hồng,

Liên kiều, Sài hồ độc khả giải,

Tiện can vi dụng Đại hoàng công.

»

HỘI YẾM TRỤC ứ THANG

BàiTĩày chủ tộ bệnh nhân bị bệnh đậu mùa, trong khoảng 5-6 ngày sau cứ uống nước vào là sặc.

Công thức bài thuốc như sau:

Đào nhân 5 tiền (sao lên rồi giã cho thật nát).

Hồng hoa 5 tiền.

Cam thảo 3 tiền.

Cát cánh 3 tiền.

Sinh địa 4 tiền.

Đương quy 2 tiền.

Huyền sâm 1 tiền.

Sài hồ 1 tiền.

Chỉ xác 2 tiền.

Xích thược 2 tiền.

Tất cả là một thang, sắc nước uống.

Phương thuôc này là dùng để chữa chứng saụ khi đậu mọc được 5-6 ngày thì cứ uô’ng nước vào là sặc. Nếu lại bị-chứng co giật kèm với uống nước vào là sặc là dò khí hư không thể khiến cho hội yếm che kín được khí quản cho nên bị sặc. Nếu gặp bệnh này thì lại phải chữa theo chứng tiẹu nhi co giật như đã nói ỗ mục phía trên.

Y phương ca quyết:

“Hội yếm trục ứ”: Thị bệnh nguyên,

Đào, Hồng, Cam, Cát, Địa, Quy, Huyền,

Sài hồ, Chỉ xác, Xích thược dược,

Thủy thương, huyết ứ lập tức yên.

CHỈ TẢ ĐIỀU TRUNG THANG

Chuyên trị sau khi lên đậu khoảng 6-7 ngày, tiêu chảy liên miên không cầm lại được. Hoặc là hơn mười ngày sau mới bị tiêu chảy cũng đều dùng bài này để chữa.

Công thức bài thuốc như sau:

Hoàng kỳ 8 tiền.

*

Đảng sâm 3 tiền.                                                                                   * .

Cam thảo 2 tiền.

Bạch truật 2 tiền.

Đương quy 2 tiền.                               * ■«

Bạch thược 2 tiền.

Xuyên khung 1 tiền.

Hồng hoa 3 tiền.

Phụ tử chế 1 tiềnfc

Cao lương khương 5 phân.

Quan quế (gọt bỏ lớp vỏ thô) 5 phân.

Tấkcả là 1 thang, đổ nước vào sắc uống.

Bài này chỉ dùng để chữa bệnh đậu mùa sau khi mắc bệnh 6-7 ngày bị tiêu chảy (tiết tả). Còn nếu gặp trường hợp lên đậu mà vừa co giật vừa tiêu chảy thì bài này cũng có công hiệu. Nhưng bài này không phải dùng để chữa những chứng mới lên đậu màlìằ bị tiết tả.

Y phương ca quyết;

“Chỉ tả điều trung”: Sâm, Thảo, Kỳ,

Truật, Quy, Thược dược, Khung, Hồng tuỳ,

Phụ tử, Lương khương, Quế thiểu dụng,

Khí hư tiết tả tổng tương nghi.

BẢO NGUYÊN HÓA TRỆ THANG

Bài này chuyên chữa sau khi bị đậu 5-6 ngày thì bị mắc bệnh kiết lỵ, hoặc trắng hoặc hồng, hoặc là cả trắng và hồng lẫn lộn. Tất cả những chứng đó đều dùng bài này để chữa.

Công thức bài thuốc như sau:

Hoàng kỳ 1 lạng.

Hoạt thạch (tán nhỏ)l lạng.

Sắc vị Hoàng kỳ để lấy nước thuốc rồi bỏ bột Hoạt thạch vào, trôn đều mà uông.

Bài này nên uông vào lúc chập tôi, nếu cho thêm vào 5 tiền đường trắng hoặc đường phèn thì càng tốt.

Bài này là một trong những bài tâm đác của (ôi, không chỉ riêng chữa trị về trẻ em bị bệnh lỵ, mà kể cả người lớn, cho dù bệnh lỵ đâ lâu hoặc là mới mắc thì đều có công hiệú rất lạ lùng.

Nếu là người lớn mà mới bị mắc chứng lỵ thì Hoạt thạch dùng tới 1,5 lạng, đường trắng dùng tới 1 lạng, không cần dùng lới Hoàng kỳ. Nếu bị lỵ đã lâu thì mới thêm vị Hoàng kỳ, còn vị Hoạt thạch thì vẫn dùng 1,5 lạng.

Y phương ca quyết:

“Bảo nguyên hóa trệ”: Bổ công phương,

Nhát lượng Hoàng kỳ tiên tác thang,

Vi mạt Hoạt thạch tu nhất lượng,

Xung phục lỵ chỉ, khí vô thương.                                                                                  M

TRỢ DƯƠNG CHỈ DẠNG THANG

%

Bài này chuyên chữa bệnh đậu sau 6-7 ngày mà ngứa ngáy không ngừng, gãi toạc da rách thịt mà không thấy máu. Kiêm chữa cả những chứng khàn giọng hoặc mất tiếng.

Công thức bài thuốc như sau:

Hoàng kỳ 1 lạng.

Đào nhân (nghiền nát như bùn) 1 tiền.

Hồng hoa 2 tiền.

Tạo giác thích 1 tiền.

Xíqh thược 1 tiền.

Xuyên sơn giáp (sao cho phồng lên)l tiền.

Tất cả đổ nước vào sắc lên mà uống.

Bài này chuyên chữa sau khi đậu mọc khoảng 6-7 ngày thì thấy ngứa.ngáy khó chịu vô cùng, nhưng khi gãi ra thì thấy trong mụn đậu không có máu. Bài này không dùng để chữa chứng mới lên đậu 1-2 ngày mà đã gây ngứa.

Y phương ca quyết:

“TrỢ dương chỉ dạng”: Kỳ, Đào, Hồng,

Tạo thích, Xích thược, Sơn giáp đồng,

Thanh á thát âm, đồng nhẩì trị,

Biểu hư nhân lý khí bất thông.

TÚC VỆ HÒA VINH THANG

Bài này chuyên chữa chứng sau khi đậu mọc, chân tay hoặc toàn thân co giật, hai mắt trỢn ngược, lưng cong ưỡn lên, uốn ván, hai hàm răng cắn chặt không thể mở ra được, mồm mép chảy nước dãi, hôn mê bâì tỉnh nhân sự, khắp người lở loét, mủ chảy dầm dề. Tất cả những chứng bệnh như trên đều dùng bài này để chữa.

Công thức bài thuốc như sau:

Hoàng kỳ ỉ lạng.

Cam thảo 2 tiền.

Bạch truật 2 tiền.

Đảng sâm 3 tiền.

Bạch thược 2 tiền.

Đương quy 1 tiền.

Táo nhân 2 tiền.

Đào nhân nghiền nát 2,5 tiền.

Hồng hoa 1,5 tiền.

Tất cả là một thang, đổ nước vào sắc uống.

Bài này chuyên chữa những chứng sau khi lên đậu bị co giật, khắp người lở loét. Nếu vì mắc bệnh thương hàn, ôn dịch và các tạp chứng khác hoặc là do mắc bệnh lâu ngày mà chân khí hư yếu gây nên co giật thì đã có những bài thuốc riêng. ‘*■■■

Y phương ca quyết:

“Túc vệ hòa vinh”: Kỳ, Thâo, Truật,

Sâm, Thược, Quy, Táo, Đào, Hồng phù,

Trừu phong: “Phong” tự tiền nhân ngộ,

Phục thử hoàn dương mệnh khả tô.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading