I. KHỞI DUYÊN
Vào khoảng tháng 2 dương lịch năm 1983, một người quen ở Gia Định, Bà Chiểu, đưa một
đứa con nuôi, bé gái 13 tuổi tên là Thảo đến xin khám bệnh, và khai em bị bệnh bướu cổ.
Nhìn qua tướng tá em bé, thấy con người có vẻ kỳ khôi, bướng bỉnh. Hỏi ra, tánh em rất
thích rong chơi và uống nước đá lạnh. Chẩn mạch thấy ba bộ bên phải rất to, nhất là hữu
Thốn vừa nghịch vừa cứng; hữu Xích rất thiệt; hữu Quan không có gì lạ; tả Thốn nghịch,
uất, sắc; tả Quan phù huyền; tả Xích chỉ hơi thiệt. Mạch 6 bộ đều mau. Khám Tử Cung thấy
bắt đầu có bướu. Bướu cổ bên phải to bằng hột mít mà cứng, đóng sát trái cấm, theo thể
bướu sụn. Vì thời tiết Sài Gòn lúc đó quá nóng, trời chưa mưa nên tôi bảo cho biết vì em bé
tánh tình rất nóng nảy, vừa bị bướu cổ, vừa bướu Tử Cung, tánh tình lại phóng túng, chưa
đến tuổi có kinh; hãy về cho em bé nghỉ ngơi, đợi có vài đám mưa cho khí hậu mát rồi đến
trị không muộn. Tôi hứa quyết định là chữa khỏi.
Thế rồi đến mấy tháng cũng không thấy trở lại. Mãi đến ngày 19/10/1983 mới trở lại thì
bướu cổ đã to bằng trứng gà tre, cho biết đã chạy chữa Tây y, châm cứu thuốc dân tộc, có
những lúc bớt rồi lại trở lại y nguyên.
II. CHẨN ĐOÁN
Về triệu chứng: Bướu cổ vừa lớn vừa cứng, thêm tinh thần gương mặt càng cau có bực
dọc hơn, tánh nết càng thích đi lêu bêu nông nổi. Mỗi lần tức giận, cổ có hơi nghẹn. Đại
tiểu tiện bình thường, vẫn chưa có kinh, bụng dưới hơi đau.
Về mạch tượng: 6 bộ mạch vẫn y như trước nhưng khí thế của bệnh càng hùng dũng
hơn, mạch hữu Thốn càng to, cứng hơn. Hai bộ Xích càng thiệt mà hữu Xích càng to hơn.
Nhận xét: Theo Tây y thì bảo bệnh bướu cổ sụn đóng sát trái cấm thuộc giáp trạng
tuyến. Nguyên nhân là bởi ăn thiếu chất I-ốt mà ra. Bướu cổ càng to, Tim càng hoặc lớn
hoặc khủng hoảng, tròng mắt lộ, tánh nóng nảy. Thế rồi người ta áp dụng một cách hết sức
máy móc là làm cách nào đưa vào cơ thể nhiều chất I-ốt, cho là làm như thế sẽ chóng khỏi,
hoặc mổ cắt bỏ bớt chứ không bao giờ nghĩ đến tại sao cùng đồng là một gia đình mà người
bị người không? Người thiếu chất I-ốt người đủ cũng không giảng rõ tại sao hầu hết người
bệnh là phụ nữ. Thế là người ta lấy đầu làm chân, đảo nhân làm quả! Riêng chúng tôi lại
thấy khác: Hễ là phụ nữ là lòng háo danh của cái Tôi rất lớn, dễ trúng độc hư vinh, rất sợ dư
luận xấu, rất thích khen mà cũng khó cởi mở. Nên khi va chạm sự đời, nổ tung thì nổ
không nổi, nuốt cho tiêu lại nuốt không đành, nằm ỳ thế “khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng
vào”, có bao nhiêu chứa hết, ém xuống không được khạc ra không thông. Vùng bướu cổ trở
nên đình đốn mà nở to.
Bộ Óc là tinh hoa tạng phủ, là đầu của xác thân, là động cơ tâm lý. Cho nên tất cả những
bệnh nội thương như Ung Thư, bướu cổ càng đóng sát phần đầu càng mắc liền tâm lý. Nói
lật lại càng mắc liền tâm lý càng đóng sát phần đầu. Cho nên bệnh bướu cổ nói theo cổ điển
là bệnh uất, trong nguyên tắc của phép Tiêu Dao. Nói theo bây giờ là tâm lý khủng hoảng,
bế tắc, bực dọc, không lối thoát, phát tung hoành nhằm làm lớn Bọc Tim, mất lý trí, tiêu
hao chất I-ốt, to bướu cổ, lộ tròng mắt. Mỗi lần tức giận hơi nghẹn, tạng Gan bị xung động
mạnh, nhân lúc đến tuổi hành kinh, kinh kỳ mở đầu không tự nhiên, âm huyết đình đốn
lại, cộng thêm uống nước đá mà Tử Cung sanh bướu. Ở trong trường hợp này, với con nuôi
con ruột, với tâm lý người cha thương con gái hơn con trai, mẹ thương con trai hơn con gái
là động cơ siêu hình tạo thành cơ duyên bướu cổ.
III. CÁCH TRỊ
Điều chỉnh gia đình: Chúng tôi trình bày hết cớ sự bệnh tình cho cha mẹ bé Thảo biết để
điều chỉnh lại không khí gia đình, thay đổi cách giáo dưỡng, cách thương yêu, đồng thời lo
cho bé uống thuốc. Hàng ngày nên nhắc nhở cho em bé áp dụng phương pháp niệm Phật
ngày đêm hai lần, mỗi lần ít nhất nửa giờ và đồng thời khuyên răn vỗ về em bé bớt rong
chơi, đừng nóng nảy, nên tập tánh hiền hòa, niệm Phật, thì thuốc mới lưu thông hiệu lực.
Hàng ngày nên vui vẻ giúp đỡ gia đình. Thấy em bé vui chơi, chấp nhận, thế là có điềm tốt.
Điều chỉnh ăn uống: Theo Tây y, thì phải ăn nhiều thịt cá, rong biển, ké đầu ngựa… cho
đủ chất I-ôt. Nhưng với chúng ta càng ăn nhiều thịt cá, tâm tính càng dễ xung động, thần
kinh nội tạng càng mất thăng bằng, chất I-ôt càng mất cơ đào tạo. Cho nên chúng tôi
khuyên nên ăn ít cá thịt, kiêng nước đá lạnh, kem, để cho tạng phủ đừng bị lạnh xâm
chiếm.
Lập phương: Đã là bệnh uất, trong nguyên tắc Tiêu Dao, chất I-ốt sở dĩ thiếu là tại cơ
uất ức tạo nên. Nên chúng tôi không chú trọng tới phải cho thêm nhiều chất I-ốt mà phải
chú trọng đến khai thông uất kết, dần dần chất I-ốt sẽ phục hồi. Trước nhất là phải làm cho
người bệnh hiểu được bởi động cơ tâm lý uất kết mà sanh bệnh và nếu phụ nữ mà cần cổ
phía trước có một bướu to là cả một sự trở ngại cho cuộc đời. Tự mình phải gánh chịu trách
nhiệm chớ không ai chịu thế. Thế rồi chúng tôi lập phương như sau:
Đơn Sâm 2 chỉ
Bạch Truật 2 chỉ
Trần Bì 1 chỉ
Mẫu Đơn Bì 2 chỉ
Chánh Uất Kim 3 chỉ
Nam Sài Hồ 1,5 chỉ
Xuyên Quy 3 chỉ
Sao Ngũ Linh Chỉ 1,5 chỉ
Ổi Cương 1,5 chỉ
Phục Linh 2 chỉ
Cam Thảo 1 chỉ
Bán Hạ 2 chỉ
Mễ Hương Phụ 3 chỉ
Bạch Giới Tử 1,5 chỉ
Bạch Thược 2 chỉ
Sao Trục Nhơn 1,5 chỉ
Bạc Hà 7 phân
Giải thích dược lý: Dùng Đơn Sâm là bởi Bọc Tim bị ảnh hưởng uất chế, tả Thốn sắc
nghịch. Đơn Sâm là thứ củ thịt có màu đỏ, vừa bổ huyết vừa hượt huyết, dùng để bồi bổ thế
hư, sắc, uất, kết, nghịch cho tả Thốn.
Dùng Phục Linh là để tăng cường cơ thấm ứa thượng tiêu cho lợi khiếu, hượt đàm, vì
Phục Linh là một thứ nấm của cây thông, vị lạt, tánh bình, không độc, để phụ tá với Đơn
Sâm. Trong trường hợp mạch hư, sắc, mất, kết.
Bạch Truật: Là một thứ củ có nhiều chất bột, vị ngọt, tánh ấm, có chất kích thích tố cho
bộ tiêu hóa như chất Cacodylatede Natri của thuốc Tây, nên dùng để hợp với Đơn Sâm,
Phục Linh thành thế tăng cường cho bộ tiêu hóa được thêm phần khí.
Cam Thảo: Dùng sống là để tả hỏa, khai uất, loãng đàm cho hiện tượng loãng đàm hữu
Thốn.
Trần Bì: Là vỏ Quýt lâu năm, tính ấm, tiêu đàm, không độc, dùng đi chung với Bán Hạ,
Cam Thảo để giải trừ bướu cổ bên phải hiện mạch to nghịch hữu Thốn.
Bán Hạ: Một thứ củ cỏ có rất nhiều chất bột, sanh giữa mùa Hạ, tàn rụi ở cuối Thu sang
Đông. Củ có chất độc, vừa ngứa vừa tê dại như chất Cocaine. Áp dụng vào thuốc chế bớt
tánh nó bằng Phèn, Gừng, Tạo Giác, Cam Thảo. Nó có tánh ấm, vào cơ thể đối đầu với đàm
nghịch hàn thấp của bao tử và có công năng làm ma túy thần kinh cuống Vị cho đừng bóp
ngược sanh ói. Cho nên trường hợp mạch hữu Thốn, hữu Quan to nghịch, có bướu cổ bên
phải, tựa một hiện tượng đàm nghịch uất kết, nên phải có nó đi chung với 5 vị trên mà
thành thế Lục Quân, vừa thêm cho tả Thốn, vừa bớt cho hữu Thốn, hữu Quan, để lấy lại thế
quân bình bình thường.
Mẫu Đơn Bì: Có màu đỏ, vị the mặn, tánh mát, là vỏ rễ cây Mẫu Đơn, chuyên vào Thận
âm, ảnh hưởng mạch tả Xích, kích thích hượt huyết để giúp cho tuần hoàn Thận được tăng
cường mà giải trừ mạch thiệt ở tả Xích, người ta còn dùng để trị tánh nóng trong xương mà
không mồ hôi.
Hương Phụ: Là củ cỏ Gấu, vị cay ngọt, tánh ấm, làm thông hơi, khai uất, đỡ đau, điều
chỉnh kinh kỳ cho phụ nữ, lại còn làm tiêu thức ăn đình đốn, làm cho tạng Tỳ tạng Gan
được lưu thông. Nếu dùng chung với Đơn Bì thì tác dụng khai thông kinh kỳ càng mạnh.
Uất Kim: Là củ chánh của nghệ Xà Cừ, bầu nước dưới chót rễ gọi là Uất Kim Tử, có nhiều
chất bột. Củ màu vàng đỏ, vị ngọt thơm, chuyên vào hệ thống của Tim và Tỳ, khai huyết ứ,
thông uất. Chỗ nào huyết bị đông đặc trong hệ thống Tâm Tỳ nó giúp lưu thông rất tốt,
không những không có hại mà còn chữa được chứng chai cứng Bọc Tim (xin đừng lầm lẫn
với Cương Hoàng) cho nên mạch hai bộ Thốn uất kết, to nghịch mà nghiêng về hữu Thốn
thì không thể thiếu.
Bạch Giới Tử: Là hột cải bẹ trắng, vị cay, tánh ấm. Chuyên vào thông đàm ở các khiếu
nhỏ thượng tiêu, khai thông mạch máu bị mỡ vít nghẹt, tan đàm ở Phổi. Mạch hữu Thốn
hưỡn, tán, nghịch, đều rất cần.
Nam Sài Hồ: Là rễ cây cỏ ruột gà, vốn có vị ngứa, the, tánh tan, thuộc về loại cỏ mọc
bằng mặt đất, nên có công năng khai thông Chẽn vừng để thông uất. Nếu đi chung với Bán
Hạ thì Bán Hạ làm hạ khí ở cuống Vị, Nam Sài Hồ làm thông khí khai uất Chẽn vừng. Cả
hai nương nhau mà thành diệu dụng. Trường hợp mạch tả Quan phù huyền, không thể
thiếu.
Bạch Thược: Là củ cây Thược Dược hoa trắng hay hoa vàng, có nhiều chất bột, vị chua,
chuyên giúp cho sức thu liễm của Phổi để chế ngự Gan, có thể dùng trong trường hợp bệnh
ỉa, kiết lỵ, và đau bụng chứng nóng, bệnh thiệt. Những vị thuốc có nhiều chất bột bao giờ
cũng mang theo nhiều chất bổ, nên trường hợp mạch hữu Thốn nghịch to, tả Quan phù
huyền sác, tả Thốn hư sắc uất kết, dùng chung với Đương Quy rất hay.
Đương Quy: Là một loại củ của loài thảo có màu vàng hơi đỏ, vị hơi ngọt, cay, đắng, rễ
hơi chua, tánh ấm. Chuyên sanh bổ huyết Tim, giúp đỡ sự hư tổn để trục uất sanh tân. Nên
người huyết thiếu, tả Thốn tả Quan thiếu rất cần.
Trục Nhơn: Là một vị thuốc mới phát minh, tức là hột bưởi, có vị đắng, có tánh hượt
đàm, hạ khí. Khi sao chín tánh hơi ấm. Nếu đi chung với Trần Bì, Bán Hạ, Bạch Giới Tử,
Bạch Thược, trở thành một tập đoàn tiêu đàm, giáng khí, khai uất, trị bướu cổ bên phải rất
hay. Mạch đối tượng của nó thuộc hữu Thốn nghịch.
Ngũ Linh Chỉ: Là cứt loài cầm xứ lạnh, tựa loài dơi, mùi rất hăng tanh, tính ấm, chuyên
phá huyết, khai thông ở Tử Cung, mà mạch ứng hữu Xích thiệt. Nếu sao chín thì tánh đằm
không mạnh quá.
Bạc Hà: Là Menthe, là một thứ cỏ thơm, dùng lá để thông khí thượng tiêu, mở đường
cho thuốc khai uất. Nếu dùng riêng mình nó thì thấy mát, dùng chung với tập đoàn thì tùy
duyên biến hóa. Nếu mạch tả Thốn có phù uất thì rất cần.
Ổi Cương: Là gừng nướng, vị ngọt cay ấm, dùng để giữ khí ấm cho trung châu Tỳ Vị, để
tập đoàn thuốc có nền tảng xuất phát. Nếu hữu Quan kém sức càng cần hơn.
Kết lại, nhìn chung toàn phương thấy giống như nguyên tắc Lục quân giải biểu, vừa trị
đàm, vừa trị cảm mà khí nghịch. Nhưng còn lại Đơn Bì, Hương Phụ, Uất Kim, Bạch Giới Tử,
Bạch Thược, Đương Quy, Trục Nhân, Ngũ Linh Chỉ, Bạc Hà, Ổi Cương nên biến thành thế
Tiêu Dao, cốt sao cho bớt mạch hữu Thốn, hữu Quan, hữu Xích, bồi bổ thêm huyết cho
Tim, Gan, khai uất thông kinh, cho nên bướu cổ nhỏ dần, bướu Tử Cung tan dần. Nhờ sức
thuốc giúp cho người bệnh mỗi khi va chạm bị phản ứng nhẹ và dễ lưu thông.
Cách dùng: Cho 3 chén nước sắc còn 8 phân, nước nhì 2 chén còn 6 phân, hòa chung
chia uống 3 lần, lúc đói trong ngày. Mỗi ngày uống 1 thang, uống hết 2 thang trở lại khám.
Ta nên nhớ: Hễ là Tây y thì bao giờ cũng chỉ căn cứ vào tướng quả, vật chất, nhắm vào
tại chỗ bệnh, căn cứ vào tế bào, vi trùng và tác dụng vật chất mà điều chỉnh. Ngoài ra, chỉ có
giải phẫu máy móc để tìm lại thế quân bình. Cho nên cách nhìn con người trở nên thành
từng bộ phận riêng rẽ. Còn trong Y đạo, bắt buộc ta phải có cách nhìn trọn con người, nhìn
từng khía cạnh tinh thần, thể xác, ăn uống, sinh hoạt, thu cả vào vọng, văn, vấn, thiết để
điều chỉnh lại thế quân bình. Cho nên mạch tượng và mạch lý khi thường cũng như khi
biến đều đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Hễ mạch tượng còn biến đổi thì còn dùng
thuốc chén và thuốc chén cũng biến hóa cho kịp thời, nên phương thuốc với triệu chứng
mạch tượng không hề lìa hở.
Đến ngày 21/10/1983 trở lại khám, thấy mạch tả Thốn đỡ phần sắc, uất, mà còn hư nên
đổi Đơn Sâm 2 chỉ thành Nhơn Sâm 2,5 chỉ. Vì thượng tiêu chưa được hoàn toàn hượt lợi,
mạch hãy còn hơi sắc nên thêm Phục Linh 5 phân. Vì hữu Quan còn kém nên thêm Bạch
Truật 1 chỉ, đổi Cam Thảo sống thành Cam Thảo sao 7 phân. Vì hữu Thốn đã thấy có phần
nhỏ bớt và bớt nghịch nên Trần Bì, Bán Hạ để nguyên. Kinh kỳ đã bắt đầu có nên bỏ Đơn
Bì mà thêm Hương Phụ 1 chỉ. Vì tả Thốn, tả Quan thấy phần huyết thiếu ôn bổ nên thêm 5
phân Bạch Thược, Đương Quy để nguyên, lại thêm Xuyên Khung 2 chỉ cho phần huyết
được vừa bổ vừa thăng bên trái. Thấy mạch tả Thốn bớt uất, nên Uất Kim vẫn giữ nguyên.
Tả Quan bớt huyền nên bớt 5 phân Sài Hồ. Vì hữu Thốn vẫn còn hượt nghịch, chứng đàm
uất vẫn còn nguyên nên thêm 5 phân sao Trục Nhơn, Bạch Giới Tử vẫn giữ nguyên, vì hữu
Xích đã bớt thiệt, có kinh rất thông, bướu Tử Cung đã giảm nên bỏ Ngũ Linh Chỉ. Người
bệnh vui tươi thuần hòa, bớt cục mịch, cơ thể thấy bắt đầu phát triển nên bỏ bớt Bạc Hà chỉ
còn 5 phân, Ổi Cương để nguyên. Toa thuốc như sau:
Nhơn Sâm 2,5 chỉ
Bạch Truật 3 chỉ
Trần Bì 1 chỉ
Mễ Hương Phụ 4 chỉ
Xuyên Khung 2 chỉ
Uất Kim 3 chỉ
Bạch Giới Tử 1,5 chỉ
Bạc Hà 5 phân
Phục Linh 2,5 chỉ
Sao Cam Thảo 7 phân
Bán Hạ 2 chỉ
Sao Bạch Thược 2,5 chỉ
Xuyên Quy 3 chỉ
Sài Hồ 1 chỉ
Sao Trục Nhân 2 chỉ
Ổi Cương 1,5 chỉ
Cách dùng: Cho 3 chén nước sắc còn 8 phân, nước nhì 2 chén còn 6 phân, hòa chung,
chia 3, uống ấm lúc đói ban ngày.
Giải thích dược lý: Thế là thang thuốc hôm nay nhắm vào vừa bồi bổ khí cho Tim vừa
thuận khí cho Phổi, vừa ôn bổ huyết, khai uất kết, tan đàm, thông kinh cho 3 bộ bên phải
bớt xuống và nâng đỡ 3 bộ mạch bên trái cho tăng lên. Cho uống liên tiếp 3 thang như thế
rồi trở lại. Vì bệnh thấy thuyên giảm nên cho uống cách ngày.
Xin nhắc lại về độ lượng thuốc của từng vị tuy có Bản Thảo Dược Học minh định, nhưng
cũng phải tùy vào lương y nhận định kỹ về tầm tuổi, sức chịu đựng, thế bệnh, mạch tượng
của bệnh nhân mà tự do thao túng. Còn lượng nước để nấu thuốc phải tùy thuộc vào lượng
thuốc nhẹ hay nặng hay trung bình. Nếu thuốc nặng hễ 3 lượng thuốc thì 2,5 chén nước
(mỗi chén ¼ lít). Nếu thuốc trung bình thì 3 lượng thuốc dùng 3 chén nước (chén trung
bình). Nếu thuốc nhẹ thì 3 lượng thuốc phải đến 3,5 chén nước. Nước sắc thuốc thông
thường thì phải là nước sông lóng trong hay nước máy, chỉ trừ bệnh nhiệt mới dùng nước
mưa. Sau này sẽ có dịp nói qua về phép sử dụng nước sắc thuốc.
Đến ngày 27/10/1983 trở lại khám: thấy mạch tả Thốn có hiện tượng sắc trở lại tức là
bệnh nhân không giữ được nguyên vẹn lời chỉ dạy của thầy thuốc, có lúc nổi tam bành. Tuy
vậy, bướu cổ đã bắt đầu thấy lui rõ rệt, bèn đổi Nhơn Sâm dùng Đơn Sâm 3 chỉ. Phục Linh,
Bạch Truật để nguyên. Vì nóng giận mà thượng tiêu uất nhiệt nên đổi Cam Thảo sao thành
Cam Thảo sống 1,5 chỉ. Hữu Thốn vẫn còn hiện tượng đàm nghịch nên Trần Bì để nguyên,
thêm Bán Hạ 5 phân. Bỏ Xuyên Khung thêm 1 chỉ Bạch Thược mà để sống không sao.
Đương Quy, Uất Kim để nguyên. Thêm 5 phân Sài Hồ, Bạch Giới Tử để nguyên. Bỏ Trục
Nhơn, thêm Huỳnh Cầm 1,5 chỉ, Đơn Bì 2 chỉ. Bớt 1 chỉ Hương Phụ, thêm 2 phân Bạc Hà,
bỏ Ổi Cương vì thấy bộ tiêu hóa không thiếu nhiệt lực nữa. Thế là phương thuốc hôm nay
đặt nặng điều kiện thuận khí thanh nhiệt, khai uất, hượt huyết, tiêu đàm.
Đơn Sâm 3 chỉ
Bạch Truật 3 chỉ
Trần Bì 1 chỉ
Bạch Thược 3 chỉ
Huỳnh Cầm 1,5 chỉ
Nam Sài Hồ 1,5 chỉ
Đơn Bì 2 chỉ
Bạc Hà 7 phân
Phục Linh 2,5 chỉ
Cam Thảo 1,5 chỉ
Bán Hạ 2,5 chỉ
Xuyên Quy 3 chỉ
Bạch Giới Tử 1,5 chỉ
Uất Kim 3 chỉ
Mễ Hương Phụ 3 chỉ
Cách dùng: Cho 3 chén nước sắc còn 8 phân, nước nhì 2,5 chén còn 7 phân. Hòa
chung, chia 3, uống ấm lúc đói trong ngày. Uống 2 thang, cách ngày 1 thang rồi trở lại
khám.
Đến ngày 30/10/1983 bệnh nhân đến khám kỹ lại thấy hết kinh, hiện tượng mạch hữu
Xích và bướu Tử Cung đã hết, nhưng hữu Thốn vẫn chưa chịu xuống hẳn, vẫn còn hơi cứng.
Tả Thốn vẫn còn hơi sắc nghịch, nên biết được bệnh nhân không thực hiện đúng lời căn
dặn niệm Phật, phải điều lại: Đơn Sâm, Phục Linh vẫn để nguyên, Bạch Truật bớt 5 phân.
Cam Thảo, Bán Hạ, Bạch Giới Tử để nguyên, Trần Bì thêm 5 phân, lại thêm sao Trục Nhơn
2,5 chỉ. Uất Kim, Bạch Truật, Xuyên Quy để nguyên, nhưng Bạch Thược sao. Vì hết kinh,
mạch 2 bộ Xích hết thiệt nên bỏ Huỳnh Cầm, Đơn Bì, lại thêm 1 chỉ Hương Phụ. Đổi Nam
Sài Hồ thành Bắc Sài Hồ cho thông uất mạnh hơn. Thêm 7 phân Viễn Chí, bớt 2 phân Bạc
Hà. Thế là điểm chú trọng hôm nay thu hẹp hẳn vào tiêu đàm, thông uất để chất I-ốt được
phục hồi. Toa thuốc như sau:
Đơn Sâm 3 chỉ
Bạch Truật 2,5 chỉ
Trần Bì 1,5 chỉ
Bạch Giới Tử 1,5 chỉ
Uất Kim 3 chỉ
Xuyên Quy 3 chỉ
Bắc Sài Hồ 1,5 chỉ
Viễn Chí 7 phân
Phục Linh 2,5 chỉ
Cam Thảo 1,5 chỉ
Bán Hạ 2,5 chỉ
Sao Trục Nhơn 2,5 chỉ
Sao Bạch Thược 3 chỉ
Mễ Hương Phụ 4 chỉ
Bạc Hà 5 phân
Cách dùng: Cho 3 chén nước sắc còn 8 phân, nước nhì 2,5 chén còn 7 phân. Hòa
chung chia 3, uống ấm lúc đói. Mỗi ngày uống 2 lần, cách 1-2 ngày uống 1 thang, liên tiếp 3
thang.
Giải thích dược lý: Kỳ này sở dĩ dùng Bắc Sài Hồ vì Nam Sài Hồ chỉ có công năng khai
thông Chẽn vừng, nhưng thiếu khả năng thông uất suốt Tam Tiêu tấu lý, nên tuy tánh có vị
nặng hơn Bắc Sài Hồ mà không thể lên đến đỉnh đầu. Cho nên từ đây đến thuốc trường
phục bắt buộc dùng Bắc Sài Hồ để giải tán uất kết một cách dứt khoát. Vì xét thấy mạch
không thay biến nữa, nên đồng thời chuẩn bị làm thuốc viên mật cho uống trường phục, và
hẹn trong vòng 10 ngày trở lại lấy thuốc bào chế.
Ta nên nhớ một điều: Suốt từ đầu chí cuối, các vị trong thang thuốc đều biến hóa xê
dịch. Nhưng Trần Bì, Bán Hạ, Bạch Giới Tử, Trục Nhơn, Uất Kim, Hương Phụ là những vị
thường trực có mặt.
Thế là từ đầu chí cuối vẫn không lìa mạch nghịch, và điều chỉnh theo thế Tiêu Dao khai
uất, lấy những vị Trần Bì, Bán Hạ, Hương Phụ, Bạch Giới Tử, Trục Nhơn, Uất Kim làm
thuốc tiêu đàm, thông uất, tan bướu, hồi phục I-ốt, với Sâm Linh Truật Thảo, Bạch Thược,
Xuyên khung, Đương Quy làm kiến thiết môi trường quân bình cơ thể. Còn bao nhiêu vị
khác chỉ là phụ tá.
Từ hiện tượng mạch uất nghịch, lệch bên phải bất thường mà điều chỉnh cho trở lại thế
mạch bình thường là hết. Còn phần bướu Tử Cung chỉ là phụ thuộc. Cho nên chỉ cần Hương
Phụ với Ngũ Linh Chỉ, Đơn Bì trong mấy hôm đầu kinh thông là khỏi. Giờ đây đến giai
đoạn mạch đứng yên một chỗ mà thuyên giảm, lần không còn biến hóa nữa, nên làm ngay
thuốc tễ hoàn mật để kịp nối tiếp khi thuốc chén vừa hết. Toa thuốc tễ như sau:
Đơn Sâm 9 chỉ
Bạch Truật 9 chỉ
Trần Bì 4,5 chỉ
Bạch Giới Tử 6 chỉ
Uất Kim 1,5 lượng
Xuyên Quy 1,2 lượng
Bắc Sài Hồ 4,5 chỉ
Bạc Hà 1,5 chỉ
Phục Linh 7,5 chỉ
Cam Thảo 4,5 chỉ
Bán Hạ 7,5 chỉ
Sao Trục Nhơn 9 chỉ
Sao Bạch Thược 9 chỉ
Hương Phụ 1,5 lượng
Viễn Chí 2 chỉ
Hợp lại tán nhuyễn làm viên với mật ong tốt, mỗi viên 2,5 chỉ, mỗi lần uống nửa viên
vào lúc bụng đói buổi sáng trưa tối.
Lại dặn thêm bệnh nhân phải giữ đúng phép niệm Phật. Khi thuốc chén vừa hết, tiếp tục
đến lấy thuốc viên, dặn uống đến bao giờ hết thuốc, đến khám trở lại.
Đến ngày 8/3/1984 trở lại khám thấy bệnh nhân hoàn toàn lành mạnh, cơ thể phát
triển theo kiểu đến thì, kinh kỳ đều đặn, bướu cổ tuy lành hẳn nhưng thế mạch nghịch ở
tay phải chỉ bớt đi độ 8/10. Do đó lại phải tiếp thêm 1 lần thuốc tễ hoàn mật như sau:
Nhơn Sâm 6 chỉ
Bạch Truật 6 chỉ
Trần Bì 3 chỉ
Bạch Giới Tử 4 chỉ (sao qua)
Uất Kim 10 chỉ
Xuyên Quy 8 chỉ
Nam Sài Hồ 2 chỉ
Phục Linh 5 chỉ
Cam Thảo 4 chỉ
Bán Hạ 6 chỉ
Sao Trục Nhơn 6 chỉ
Bạch Thược 6 chỉ
Hương Phụ 8 chỉ
Tán nhuyễn làm viên với mật ong tốt, mỗi viên nặng 2,5 chỉ. Mỗi ngày uống 2 lần, sáng
và tối lúc bụng đói, mỗi lần nửa viên. Cứ thế mà uống cho đến bao giờ hết thuốc là dứt
khoát khỏi.
Xin nhắc qua về sự lợi dụng luật rung động của tâm lý, vật lý và sinh lý kết cấu thành
phương pháp niệm Phật, tạo thành năng lực điều chỉnh thế quân bình hệ thần kinh và tâm
thức để chữa bệnh bướu cổ như sau:
Bộ Óc là tinh hoa của tạng phủ, cung Nê Hoàn (não thùy) là tinh hoa của bộ Óc. Tiền Nê
Hoàn không những là tinh hoa của bộ Óc lớn phía trước mà còn điều động sức co bóp của
toàn bộ tuần hoàn xuống tận đến bộ hạ dưới, thần kinh tri giác. Hậu Nê Hoàn không những
là tinh hoa của bộ Óc nhỏ phía sau mà còn điều động sức gồng bóp cả hệ thống thần kinh
động tác và gân xuống đến vùng hạ bộ, cả hai đều chầu về gặp nhau ở vùng Tử Cung. Cung
Nê Hoàn mở ra huyệt Bá Hội. Lưỡi là một cơ quan rất giàu khả năng động tác, phía sau liên
hệ với bộ óc nhỏ và huyệt Á Môn. Cung Nê Hoàn với lưỡi liên hệ với nhau bằng thần kinh
động tác, mà lưỡi với tạng Tim cũng liên hệ với nhau bằng thần kinh động tác. Thế là cung
Nê Hoàn là chỗ tóm đầu trên; Tử Cung, hạ bộ, huyệt Hội Âm là chỗ tóm đầu dưới. Nếu nói
rung động thì tâm tư móng lên ý nghĩa, miệng niệm thành câu, mắt nhìn hình tượng màu
sắc, lòng kính trọng khiêm cung, đều có thể tạo thành cơ rung động. Rung động ít là âm
thanh, rung động nhiều hơn hóa màu sắc, nhiều hơn nữa hóa thành ánh sáng. Rồi cứ thế
tiến dần đến mùi vị, nguyên tử. Rung động lơi là cởi mở, rung động nhặt là cắt đứt. Đây là
yếu tố để chế ra của nguyên tử, mà cũng là yếu tố để biến từ rung động sang năng lực, năng
lực thành rung động. Phép niệm Phật là một tổ chức có phương pháp, có cách thức, xây
dựng tác dụng niềm tin, lòng thành trong hiểu biết. Mượn bộ óc và cái lưỡi với tâm tư để
điều chỉnh lại thế quân bình toàn bộ thần kinh nội tạng suốt từ trên đầu xuống tới chân
cho trở lại thế quân bình, để có thể chữa cho một số rất lớn bệnh tật mắc liền với tâm thức,
chớ không chỉ hạn cuộc ở bướu cổ mà thôi. Chỉ có người biết vận dụng hay không biết vận
dụng.
Đây là một phương tiện rất khoa học, để bổ cứu cho sự thiếu sót về mặt khoa học tinh
thần của nhân loại vào sự thật trong thực tế hàng ngày, một cách tuần hoàn cụ thể, chứ
không như những ai chỉ vì mê muội về vật chất, mới nghe thấp thố thấp thử rồi vội xua cả
vào xó mê tin, cũng nên lấy đây làm bài học xứng đáng!
Phụ Chú: Nói qua về sự khác biệt giữa Nam Sài Hồ và Bắc Sài Hồ. Thật ra Nam Sài Hồ
chỉ là rễ cây cỏ ruột gà chứ không phải Sài Hồ (như trên kia đã nói), nên chỉ có công dụng
khai thông Chẽn vừng. Nhờ có vị ngứa mà thông khiếu mạnh. Còn Bắc Sài Hồ là rễ một thứ
cỏ nhỏ đứng thẳng hình giống bụi tre, trong ruột bọng xốp, có mùi thơm nhẹ, có khả năng
vượt thẳng để thông Tam Tiêu, suốt tấu lý, vượt lên đỉnh đầu. Và vì giá đắt hơn Nam Sài
Hồ, nên phải tùy cơ ứng dụng.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading