Bệnh bán thân bât toại, nguồn gốc bệnh chỉ có một lõại mà các y gia lập luân lại chẳng giống nhau.
“Linh khu kinh” giảng:
– “Hư tà xâm nhập vào nửa thân người,’nếu như vào sâu thì cư trú ở trong vinh vệ, vinh vệ suy yếu thì chân khí tán, chỉ còn tà khí lưu lại, vì thế mà trở thành bệnh thiên khô. Thiên khô chính là bệnh bán thân bâ’t toại”.
“Hoàng đế nội kinh tố vân” giảng:
- “Phong tà trúng vào các huyệt du của ngũ tạng lục phủ, phong trúng vào chỗ nào thì sẽ thành bệnh thiên khô ở chỗ đó.”
Trương Trọng cảnh giảng:
- “Phàm là phong mà gây nên bệnh, sẽ khiến cho người ta bị bệnh bán thân bất toại.”
*. Cả 3^)0 sách trên đều cho rằng bệnh bán thân bất loại đều là dò phong gây ra.
Cho tới Lưu Hà Gian thì thâ’y rằng nếu chữa theo những lý luận của 3 bộ sách trên thì chẳng thu được thành công, bèn ra tay lìm tòi nghiên cứu, cuối cùng phát biểu:
- “Bệnh trúng phong không phải do Can phong nội động, mà cũng không phải là trúng phong do ngoại tà, mà do điều dưỡng và làm lụng nghỉ ngơi không có điều độ, nội hỏa bốc lên, chân thủy khô kiệt không chế được hỏa cho nên tâm thần hôn mê, bởi thế mới đột ngột qụy xuống mà không hay biết.
Nếu như thế thì Lưu Hà Gian lại cho rằng bệnh bán thân bất toại là hoàn toàn do hỏa.
Lý Đông Viên thấy Lưu Hà Gian lập luận mâu thuẫn, lại có một cách biện luận khác:
- “Trụng phong là do khí hư, vì thế cho nên phong mới trúng vào cơ thể được”. Bệnh kéo dài trong khoảng thời gian từ bốn tuần trở lên ở người khỏe mạnh thì ít thấy, mà thường thây ỏ những người khí hư béo trắng”. Lý Đông Viên lại còn lý luận mà phân chia ra các loại trúng tạng, trúng phủ, trung huyết mạch và trúng kinh lạc. Khi lập phương thuốc thì chủ yếu lập luận cho là bệnh trúng phong là do khí hư lại gặp phong tà.
Chu Đan Khê thây Lý Đông Viên lộp phương thang và chứng bệnh không phù hợp với nhau, cho nên mới lạp luận theo cách khác mà cho rằng: Vì hướng tây bắc lạnh, cho nên mới có trúng phong. Còn hướng đông nam không khí ẩm thấp, cho nên khổng phải thực là trúng phong, tất cả đều do trước đó khí huyết đã hư yếu sấn, cho nên tháp thì sinh đàm, đàm sinh nhiệt, nhiệt sinh phong”. Cứ theo cách lý luận của Chu Đan Khê như thê thì bệnh trúng phong cơ bản là do đàm và thâp đàm.
Vương An Đạo thâ’y Chu Đan Khê đã bàn luận về bệnh trúng phong, mà lại còn chia ra vùng đông nam khí tháp cho nên không phải là chân trúng phong, liền phát biểu rằng:
– “’Bệnh trúng phong mà các sách “Nội kinh”, “Tố” vân” và Trương Trọng cảnh nói tới là bệnh “ốhân trúng phong”. Các bệnh trúng phong như Lưu Hà Gian, Lý Đông Viên, Chu Đan Khê nói tới là “loại trúng phong”.
Ngu Thiên Dân thì lại nói Tằng cái thuyết của Vương An Đạo phân ra “chân trúng phong” và “ loại, trúng phonglLlà chưa được đúng hoàn toàn. Tâtcả những bệnh hầy đều lẳ do thấp khí và đàm hỏa cùng phôịhỢpv^ipèớfig;jmâ?-íẳimỉarỴỠỞ;sa^<^ic>òn phân ra “chân trúng phong” và “loại trúhg phong”? •
Chỉ có một mình Trương Cảnh Nhạc là có ý kiến rất caỏ-t mình mà cho rằng bệnh bán thân bất toại phần lớn là dồ khí hư, cho nên mới dễ bị trúng phong. Vì thế cho nên Trương Cảnh Nhạc có viết hẳn một thiên bàn về bệnh trúng phong không phải do phong. Chương đó gọi là “Phi phong luận”. Trương Cảnh Nhạc chỉ đẫn dụng những triệu chứng của bệnh quyết nghịch, bao gồm biện luận về hàn nhiệt, huyết hư, biểu hiện ra mười hai kinh mạch. Nhưng những chứng đó cũng không phù hợp với chứng trúng phong, cho nên những phương thuốc đó cũng không công hiệu. Thật đáng tiếc cho tiên sinh vì đối với bệnh trúng phong, tiên sinh cũng chưa từng trải được nhiều.
Còn lại các danh y khác, thì khi bàn luận về nguyên nhân của bệnh trúng. phong,* đều cho là do hỏa, do khí, do đàm gíìy nên. Khi lập phương .thang thì đều dùng các vị thuốc tán phong thanh hỏa, thuận khí hóa đàm.
Gó người lại cho rằng bệnh trúng phong là do khí huyết hư nhược ma trúng phong tà, thế là trong thang thuốc tán phong thầnh hỏa lại cho thêm những vị bổ khí dưỡng huyết.
Có người cho rằng bệnh trúng phong là do chân âm hư tổn mà bị, thế là liền dùng những thang thuốc tư âm bổ Thận mà gia thêm cáe~vị thuốc thuận khí hóa đàm.
về đường iối thì như thế, còn về cách dùng thuốc thì có người dùng thuốc bổ nhiều mà công phạt ít, có người thì dùng thuốc bổ ít mà công phạt nhiều, rồi tự cho như vậy là “công bổ kiêm thi” mà tự lây làm đắc ý lắm.
Người đời nay tôn trọng những phương thang đó mà đem sử dụng thì chẳng thâ’y công hiệu gì cả, nhưng lại không dám nghị luận những cái sai của cổ nhân, mà cho là vì cổ phương không phù hợp với bệnh của người đời nay, là do nguyên khí của con người ngày xưa và ngày nay không giống nhau…!
Nếu đã nói là do phương thang của cổ nhân không phù hợp với bệnh ngày nay, nguyên khí của con người xưa và nay không giống nhau, thế thì tại sao khi người đời nay mắc bệnh thương hàn, dùng tới những phương thang như “Ma hoàng thang”, “Đại thừa khí thang”, “Tiểu thừa khí thang”, “Đại hãm hung thang”, “Tiểu hãm hung thang”, “Đại Sài hồ thang”, “Tiểu Sài hồ thang”. ..V…V… cứ uống vào là khỏi?
Tại sao-trong môn chữa trúng phong, khi uô’ng các bài “Dụ phong đơn”, “Đạo đàm thang”, “Tần bông thang”, “Tam hóa thang”…V…V…cho dù sử dụng để chữa ‘rất nhiều mà cũng chẳng rhu được thành công?
Chính là vì người đời sau không nghĩ tới là khi cổ nhân lập ra phương thang, giữa công hiệu và không công hiệu là hai con đường. Những phượng có công hiệu là do cổ nhân đã từng nhiều lần đích thân chữa trị bệnh đó, cổ nhân đã từng trải qua thực tế mà lập ra phương. Còn những phương thuốc không có công hiệu, thì phần lớn là chỉ do cổ nhân bàn bạc rồi tự suy luận mà lập ra.
Nếu chỉ do bàn bạc trên lý luận rồi suy luận mà ỉập ra phương thuốc, thì làm sao mà hiểu cho được rõ ràng về nguyên nhân của bệnh? Tại sao bị liệt nửa người? Tại sao lại bị bệnh mồm mép méo lệch? Tại sao nói năng lại khó khăn ngọng ngịu, mồm mép chảy dãi? Vì cớ gì mà đại tiện khô táo? Vì sao mà hay đi tiểu tiện? Chẳng ai có lấy một định kiến thông nhất nào, khiến cho lẫn lộn mà sinh ra ngờ vực! Bệnh nửa người tê liệt, riếu cho là nguyên khí đã bị suy tổn mất một nửa, mà lại dùng các loại thuốc công phạt mà chế ngự thì làm sao mạ không gọi là mắc sai lầm. Nếu xét cho đến cùng, những cái sai lầm đó nếu không do thầy thuốc chữa sai thì là do người viết sách viết sai. Than ôi! Cớ sao lại có những sự như vậy? Nhưng nghĩ cho đến cùng thì đó là điều đương nhiên-vậy!
Có người hỏi tồi rằng:
- Bệnh bán thân bất toại, cổ nhân cho là do phong, do hỏa, , do thâp,*do đàm. Các y gia lần lượt thay nhau nghị bác, vậy có
chứng cứ gì để chứng minh không?
Tôi đáp:
- Thì lấy ngay chương trúng phong trong bộ “Thương hàn luận” Gỏa Trương Trọng Cảnh mà làm bằng cứ. Trong chương “Trúng phong”, Trọng cảnh nói:
- “Trúng phong sẽ khiến cho người ta nhức đầu, đau mình, phát số) sợ lạnh, nôn khan và vã mồ hôi”.
“Kim quỷ yếu lược” thì bàn luận mà cho rằng thương phong thì tất khiến cho người ta ngạt mũi hắt hơi, ho nhổ khàn giọng, mũi chảy nước trong. Trong môn trúng phong lại nói: “Phong mà gây nên bệnh, thì sẽ khiến cho người ta bị bệnh bán thân bất toại”.
Nay xin hỏi vậy là loại phong gì? Trúng như thế nào mà khiến cho người ta đầu nhức thân đau, phát sốt sợ lạnh, nôn khan và đổ mồ hôi.
Loại phong gì? Trúng như thế nào mà khiến cho người ta ngạt mũi hắt hơi, ho nhổ giọng khàn, mũi chảy nước trong?
Loại phong gì? Trúng như thế nào thì sẽ khiến cho người ỉa bị bán thân bâì toại?
Bán thân bât toại nêu đúng ỉà do phong, rồi phong lại trúng vào người, thì tâ’t là sẽ từ bì phu mà vào kinh lạc, tức là sẽ từ biểu mà nhập vào lý.
Tôi thường chữa bệnh này rất nhiều, vì thế nhận thây rằng, ỉúc đầu hoàn toàn không thấy người bệnh có các hiện tượng biểu chứng như phát sốt sợ lạnh, đầu nhức mình đau, mũi khô đau mắt, lúc nóng lúc lạnh…v… v…Đã không có các hiện tượng của biểu chứng, thì sẽ biết ngay là bệnh bấn thân bất toại không phải là do trúng phong tà. Thêm nữa, mọi người khi bàn luận về phong, hỏa, thấp, đàm lại rất mơ hồ và lẫn lộn. Nếu như do phong, hỏa, thâp, đàm thì không cần bàn là do phong bên ngoài lấn vào hay là do phong từ bên trong cơ thể phát ra, tất sẽ phải vào kinh lạc. Trong kinh lạc thì tâ’t phải có không là khí thì là huyết, mà một khi khí hoặc huyết đã bị phong, hỏa, tóp đàm ngăn trở thì khí huyết sẽ bị bế tắc không thông, thi dứt khoát phải có triệu chứng đau đớn biểu hiện ra, đó chính là tý chứng mà gây nên bệnh đau nhức cơ thể, nếu mà như thế thì lại không phải là bệnh bán thân bất toại, bởi vì nếu là bệnh bán thân bất toại thì hoàn toàn không có triệu chứng đau đớn.
Tôi thường thường chữa rất nhiều bệnh này, từ trước tới nay chưa hề thấy người bệnh nào có những biểu hiện triệu chứng đau mình của bệnh tý mà bị bán thân bất toại cả. Do đó tự suy nghĩ mà kết luận rằng: Bệnh bán thân bât toại cũng chẳng phải là do* phong, hỏa, thâ’p, đàm gây ra.
NGUỒN GỐC BỆNH BÁN THÂN BẤT toại
V
Có ngườũhỏi tôi rằng:
- Ông cho rằng bệnh bán thân bất toại là do nguyên khí bị hự tổn mà phát ra, vậy thì tại sao cho mãi tới khi nguyên khí bị hư tổn tớí rrỉột nửa rồi cơ thể mới phát bệnh? Tôi nguyện xin được hghe lời giảng giải của ông.
Tôi trả lời:
- Nguyên khí được chứa ở trong khí quản rồi được phân bô’ khắp cơjjiể, chu lưu tất cả bên phải và bên trái của cơ thể. Con người ta, đi lại, nằm, ngồi…V…V…tất cả đều phải nhờ vào nguyên khí. Nếu nguyên khí sung túc thì thân thể được mạnh khỏe, nguyên khí suy thì thân thể yếu đuối, nguyên khí hết thì người phải chết. Nếu như trong mười phần của nguyên khí, giả sử có hư tổn mất hai phần thì nguyên khí vẫn còn lại tám phần mười. Tám phần đó mà chia đổi thì mỗi một nửa cơ thể vẫn còn bôn phần, như thế thì vẫn là chưa có bệnh. Nếu như nguyên khí đã hư yếu mất năm phần thì chỉ còn lại năm phần, như vậy có nghĩa là khi chia đôi cho hai nửa thân người thì mỗi nửa thân người chỉ còn lại hai phần rưỡi. Lúc đó cho dù người đó chưa bị bệnh bán thân bất toại, thì cũỹg đã có biểu hiện khí suy, vì thê inà không hề thấy đau thấy ngứa, cho nên người ta vẫn không hề hay biết.
Nếu như nguyên khí đã bị hư thì khí trong kinh lạc khó mà tránh khỏi tự nhiên bị trống rỗng, khí đã bị trông rỗng rồi thì tất sẽ CÓ những chỗ sơ hở, cho nên rất khó tránh khỏi tình trạng nguyên khí sẽ bị dồn sang và quy tụ vào một bên của cơ thể. Nếu hai phẩn rưỡi nguyên khí cửa bên phải dồn hết sang bên trái thì nửa bên phải của cơ thể sẽ không có khí. Nếu hai phần rưỡi nguyên khí của bên trái mà dồn hết sang bên phải thì nửa thân người bên trái sẽ không có khí. Đã không có khí thì một nửa thân thể bên đó sẽ không cử động được, vì thế mới gọi là bệnh “bán thân bất toại”. Bất toại có nghĩa là người ta không còn sử dụng được, không còn điều khiển được một nửa bên thân mình bị bệnh đó nữa.
Nếu như bệnh đó bất chợt xa?y ra trong lúc người ta đang ngủ thì người bị bệnh hoàn toàn không hay biết gì cả, cho tận tới khi tỉnh ngủ dậy người bệnh mới chợt thây rằng mình không trở mình hoặc xoay chuyển được nữa. Nếu cho tới khi tỉnh dậy khí mới dồn về một bên, thì người bệnh sẽ tự mình biết ngay nửa bên bị bệnh, còn nửa bên không bị bệnh sẽ có cảm giác giông như có dòng nước chảy, đó là cái lẽ có nước chảy thì sẽ có tiếng sóng vậy. Nếu bệnh bất chợt xay ra trong lúc người bệnh đang ngồi thì sẽ thấy tư thế ngồi của người bệnh đột nhiên nghiêng ngả chao đảo. Nếu bệnh chợt xẩy ra trong lúc đang đi, khiến cho một nửa thân người không có khí, sẽ làm cho người bị bệnh đột nhiên qụy xuống. Người ta thấy thế cho nên nhầm tưởng mà cho rằng vì bị đột qụy cho nên mới bị bán thân bất toại, mà không biết rằng bị bệnh bán thân bất toại hoàn toàn không phải là do đột qụy gây ra. Mà thực ra là do nguyên khí suy yếu mà bị đột quy, rồi dẫh tới bán thân bất loại.