I. DUYÊN KHỞI
Sáng ngày 8/2/1984, một phụ nữ quen mặt tên là Lê Thị Thanh Tâm, 32 tuổi, người Sài
Gòn, đến xin trị bệnh sạn Thận, có kèm theo phim ảnh do bác sĩ Phát chụp, và cho kết quả
có khối sạn ở thận bên phải độ 1,8 cm đường kính.
II. CHẨN ĐOÁN
Trông qua người có nước da trắng, không đến nỗi gầy, có một giọng nói rất u buồn với một
cặp mắt dễ đăm chiêu. Hỏi ra thì trong gia đình, người trong nước người nước ngoài chưa
sum hợp. Người vốn có bệnh tim và bao tử.
Về triệu chứng: Bệnh nhân khai thường đau lưng phía phải, miệng thường lạt, không
thèm ăn, giấc ngủ và đại tiểu tiện bình thường.
Về mạch tượng: Chẩn mạch thấy hữu Thốn phù đại nghịch, hữu Quan phù hưỡn đại,
hữu Xích trầm thiệt, tả Thốn hư uất sắc, tả Quan, tả Xích bình thường, nhưng so với bên
phải thì hơi nhỏ.
Nhận xét: Bệnh phát ở cuối mùa Đông sang Xuân mà là bệnh đàn bà. Tuy mạch phải
lớn là thuận, nhưng lớn quá thường mà lại nghịch quá rõ rệt, thêm mạch có hơi chậm, nên
biết được trường hợp sạn Thận này tuy ở Thận bên phải nhưng rất quan hệ đến (tâm lý)
tạng Tim và tạng Tỳ. Vì thế nên cách bố cục cũng theo đó mà lập pháp, bèn cho phương như
sau:
Chánh Phục Thần 1 lượng
Chánh Hổ Phách 2 chỉ
Trần Bì (sao giấm) 3 chỉ
Bán Hạ 3 chỉ
Cam Thảo 1 chỉ
Chánh Uất Kim 3 chỉ
Kê Nội Kim sao 1,5 lượng
Cách dùng: Tất cả hợp lại tán nhuyễn làm thành bột thật mịn. Mỗi ngày 3 lần uống
sáng trưa tối, mỗi lần hòa 1 muỗng cafe vun thuốc bột với một tách nước sôi đánh tan, để
ấm ấm uống.
Qua một tuần trở lại khám.
II. GIẢI THÍCH DƯỢC LÝ
Phục Thần: Tức là củ Phục Linh bị rễ cây thông xuyên qua, nên ngoài tánh bình, vị lạt,
thông thấm ứa, loãng đàm ra, còn thêm khả năng làm thông tâm khiếu, để điều chỉnh lại
tạng Tim. Nên mạch tả Thốn uất, sắc rất cần dùng.
Hổ Phách: Tức là chất nhựa Thông, rơi chìm sâu vào lòng đất lâu đời, điện lực thu liễm
vào trong kết tinh lại, có vị hơi lạt, tánh ấm, chuyên trấn thần kinh Tim, làm an hồn phách
và có công năng làm tiêu sạn Thận, nhưng có hơi lệch bên trái. Nên trường hợp mạch tả
Thốn uất kết, hư sắc, thường lên cơn mệt Tim và tả Xích trầm, trì, thiệt là rất cần.
Trần Bì: Tuy là vị thuốc đã nói rồi nhưng cho sao giấm cho dẫn vào Gan để làm ấm Gan.
Bán Hạ: Là vị thuốc chuyên trị đàm thấp, mạch hữu Thốn to nghịch là rất cần như đã
từng nói.
Cam Thảo: Không dùng chín, là để vừa điều hòa các vị thuốc, vừa lợi thủy, vì ở trường
hợp hữu Thốn nghịch.
Chánh Uất Kim: Tức là củ cái của nghệ xà cừ, là loại củ có nhiều màu vàng đỏ, nhiều chất
bột, vị cay, thơm ngọt, tánh ấm, có công năng thông uất hóa ứ cho cả Tim và Tỳ Phế. Nên
trường hợp vừa bị sạn Thận bên phải vừa bị bao tử, bệnh Tim là trường hợp rất cần.
Kê Nội Kim: Tức là da trong của mề con gà, là nơi tập trung nội hạch của cơ năng tiêu
hóa chất khoáng trong động vật, sao chín. Nếu không sao chín thì công năng không xuất
hiện. Là một thứ chất thịt có vị hơi đắng, mặn, lạt, có mùi hôi, tánh bình nên có công năng
chuyên trị bệnh cam trẻ con, mắt kéo mây, bệnh bộ tiêu hóa và tiêu sạn Thận bên phải.
Mạch hữu Quan phù hưỡn đại rất cần dùng nó.
Nhìn chung phương thuốc có những điểm nhấn sau đây: Thông uất ở Tim, điều chỉnh
thần kinh Tim cho thần định, giáng đàm nghịch, tăng cường bộ tiêu hóa, tiêu sạn Thận bên
phải.
Vì bệnh nhân là người Công giáo, không dạy cho hiểu được phép áp dụng năng lực và
rung động bằng cách niệm Phật, chỉ dặn mỗi ngày chỉ ăn cơm gạo lứt, đừng ăn no, mà lại ăn
với rau muống luộc thật chín, vắt chanh thật nhiều, ăn với nước tương thiệt, ăn nhiều rau
muống, không được ăn muối, nước mắm hay tất cả các thứ khác. Và thường vận động nhẹ
eo, thắt lưng, thường tắm nắng và tập cho tinh thần trở lại vui tươi để thúc đẩy cho cơ nội
tiêu.
Đến ngày 15/2/1984 bệnh nhân đến khám, kể lại những diễn biến của bệnh trong thời
gian uống thuốc. Thỉnh thoảng vùng thắt lưng và vùng bụng có đau quặn. Mỗi khi tiểu tiện
thấy đau nhói trong đường tiểu, nước tiểu nhiều chất lợn cợn trắng. Kiểm điểm về ăn uống
sinh hoạt thấy vẫn giữ được bình thường, lưng bớt đau. Diễn biến về mạch thì hai bộ Thốn
và hữu Quan tuần tự thuyên giảm. Nhìn chung 6 bộ mạch thấy có hơi sắc, mặc dù tiểu tiện
vẫn nhiều nước. Thế là trong những ống của các cơ cấu đường tiểu thiếu trơn nhuận, nên
đổi phương như sau:
Phục Thần 1 lượng
Trần Bì sao giấm 3 chỉ
Cam Thảo 1 chỉ
Kê Nội Kim sao 1,5 lượng
Hổ Phách 2 chỉ
Đông Quỳ Tử sao chín 5 chỉ
Chánh Uất Kim 3 chỉ
Hợp lại tán nhuyễn thành thuốc bột mịn.
Cách dùng: Mỗi ngày 3 lần sáng, trưa, tối, mỗi lần uống một muỗng café vun hòa tan
trong một ly nước ấm.
Thế là toa này chỉ bỏ Bán Hạ, thêm Đông Quỳ Tử. Vì Đông Quỳ Tử là hột của hoa Hướng
Dương mùa Đông. Hoa này khi nở thì hoa cái bao giờ cũng chuyển theo mặt trời, chất có
nhiều dầu, tánh có hơi mát, trơn nhuận, thông lợi. Từ xưa người ta chỉ biết dùng nó để thúc
giục cho sanh mau, còn đây thì dùng nó để cho các ống bên trong được trơn nhuận, lỡ sạn
có ra nguyên khối cũng đỡ bị cọ xát, gồng thắt. Trường hợp mạch hữu Thốn phù đại nghịch,
hữu Quan phù hưỡn đại, hữu Xích trầm thiệt, nhìn chung có hơi sắc là rất cần dùng nhưng
để sống có hơi thái quá nên phải sao chín.
Về điều dưỡng: dặn cứ giữ y như trước, và theo dõi nước tiểu, uống đến hết thuốc rồi
trở lại.
Đến ngày 23/2/1984, bệnh nhân đến xin khám lại. Về triệu chứng biến chuyển, bệnh
nhân khai, có lúc đột ngột đau bụng có vẻ táo bón, nhưng thoáng rồi qua và nước tiểu thấy
có nhiều cặn. Ngoài ra, triệu chứng Tim, bao tử và đại tiện rất bình thường, về nhiệt độ
trong người rất tốt, tiểu tiện hết đau, lòng bàn tay, lòng bàn chân thấy ấm. Về mạch tượng
thấy thuyên giảm rất nhiều, chỉ có tả Xích hơi hư bèn đổi phương như sau:
Chế Hải Sâm 1 lượng
Trần Bì 3 chỉ
Đông Quỳ Tử sao 1 lượng
Hổ Phách 3 chỉ
Cam Thảo 2 chỉ
Kê Nội Kim sao 1,5 lượng
Hợp lại tán thành bột mịn, chia uống đúng một tuần lễ mỗi ngày 3 lần như trước.
Cách chế Hải Sâm: Hải Sâm là con đỉa biển. Một loại động vật tế bào ngang, chuyên
ăn cát để nuôi sống, có vị mặn, mùi khai, tánh ấm. Người ta thường dùng làm thức ăn,
nhưng dùng vào thuốc để bổ Thận và tiêu sạn trong trường hợp Thận hư rất cần, nhưng nếu
làm thuốc bột là phải bổ đôi, chùi rửa sạch cát bên trong, phơi ráo, cắt từng khoanh mà
rang với cát to, đãi sạch cho phồng lên, mới làm thành bột được. Trong trường hợp sạn
Thận mà Thận yếu, nhất là Thận bên trái càng cần hơn. Ngoài ra Hải Sâm còn giúp thêm
chất nhựa cho trơn nữa.
Thế là lần này không cần Phục Thần, Uất Kim mà dùng Hải Sâm, tăng độ Hổ Phách,
Đông Quỳ Tử, Cam Thảo để tăng cường sức tan sạn, trơn nhuận các ống, bồi bổ cho Thận.
Nên nhớ Hổ Phách tăng thì Đông Quỳ, Cam Thảo phải tăng, lại thêm Hải Sâm vì nếu
không thế thì mặt da trong của các ống bị ráo mà không hay.
Đến ngày 3/3/1984, bệnh nhân trở lại khám. Về triệu chứng khai thấy trong người hơi
mệt, nghe trong lồng ngực như ráo, vì phải ăn ít nên hơi gầy. Ngoài ra giấc ngủ, bao tử, đại
tiểu tiện vẫn bình thường, chỉ có nước tiểu cặn hơi nhiều mà lợn cợn như cát. Về nhiệt độ
trong người thấy có lạnh đôi chút. Các mạch tượng hoàn toàn chuyển về chiều hướng càng
tốt đẹp. Do đó tôi bèn tạm ngưng thuốc bột, đổi toa thuốc như sau:
Đơn Sâm 4 chỉ
Kê Nội Kim 4 chỉ
Trần Bì 1 chỉ
Hổ Phách 2 phân (nghiền gói riêng)
Phục Linh 3 chỉ
Cam Thảo 1 chỉ
Đông Quỳ Tử sao 4 chỉ
Bán Hạ 1,5 chỉ
Sanh Cương 2,5 chỉ
Cách dùng: Cho 2,5 chén nước sắc còn 7 phân, hòa bột Hổ Phách uống ấm hết một lần
lúc đói hoặc buổi tối. Uống liên tiếp 2 thang, 2 ngày rồi trở lại.
Thế là biến thang Lục Quân, đổi Bạch Truật thế Kê Nội Kim, thêm Đông Quỳ Tử, Hổ
Phách để vừa bổ huyết vừa trị sạn Thận bên phải cho thêm sức. Về theo dõi, điều dưỡng vẫn
như trước.
Đến ngày 5/3/1984, bệnh nhân trở lại. Về triệu chứng vẫn không chi lạ, chỉ thấy mạch
tượng phần huyết kém, tất cả 6 bộ mạch đều biến chuyển nhưng chỉ có hữu Thốn nghịch độ
nhỏ bớt thì nhanh, bớt nghịch thì chậm, tả Thốn còn hơi uất, điều này quan hệ đến cá tính
hơi lo và mơ buồn của người bệnh, nên đổi toa như sau:
Đơn Sâm 5 chỉ
Kê Nội Kim sao 1,5 lượng
Trần Bì 2 chỉ
Bạch Thược 5 chỉ
Viễn Chí 2 chỉ
Phục Linh 5 chỉ
Cam Thảo 3 chỉ
Đông Quỳ Tử sao 5 chỉ
Xuyên Quy 5 chỉ
Hoài Ngưu Tất 5 chỉ
Hợp lại thành thuốc bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2,5 chỉ với nước ấm.
Giải thích dược lý: Thế là vẫn nguyên tắc Lục Quân như 2 thang trước nhưng bỏ Bán
Hạ, thêm Bạch Thược, Đương Quy để tăng cường bổ huyết, thêm Viễn Chí để thông các
khiếu trong Tim. Thêm Hoài Ngưu Tất cho giãn nở các ống đường dẫn tiểu để tẩy hết sạn.
Vậy là vừa bổ huyết, vừa tiêu sạn, vừa trơn nhuận, vừa mở cửa cho sạn ra. Đồng thời dặn
bệnh nhân uống hết thuốc trở lại khám.
Đến ngày 12/3/1984 bệnh nhân trở lại khám, nhìn chung thấy sắc diện có hơi gầy một
chút. Về chứng thì đại tiện rất thông, miệng không còn lạt. Về tiêu hóa thì phải ăn uống
theo kiểu điều dưỡng bệnh sạn Thận nên không ăn được nhiều. Về mạch thấy Thận có hơi
kém, về thần của Tim chưa ổn định cho nên tả Xích hơi hư, tả Thốn hơi sắc, ngoài ra đều tốt
đẹp không có gì khác. Bèn đổi toa như sau:
Đơn Sâm 3 chỉ
Phục Linh 5 chỉ
Cam Thảo 3 chỉ
Sao Bạch Thược 5 chỉ
Viễn Chí 2 chỉ
Hổ Phách 1 chỉ
Chế Hải Sâm 7 chỉ
Kê Nội Kim sao 2 lượng
Đông Quỳ Tử sao 5 chỉ
Xuyên Quy 7 chỉ
Hoài Ngưu Tất 7 chỉ
Trần Bì 2 chỉ
Hợp lại tán nhuyễn thành bột mịn, mỗi lần uống 2,5 chỉ với nước ấm lúc đói với nhiều
nước. Mỗi ngày uống 3 lần và dặn bệnh nhân đúng theo phép mà bồi dưỡng đến bao giờ hết
thuốc, đi chiếu điện rồi trở lại khám.
Đến ngày 19/3/1984 bệnh nhân đến có mang theo phim chụp lại, thấy hình sạn chỉ còn
lại một bóng mờ phải nhìn kỹ lắm mới nhận ra. Chính bác sĩ Phát cũng ghi lời nhìn nhận là
sạn sắp hết. Về triệu chứng thì tất cả đều bình thường, không thấy đau lưng nữa và trong
nước tiểu có nhiều cát. Về mạch thì thấy bệnh cất hẳn một cách rõ rệt, nên chỉ cần cho ít
chén thuốc bồi dưỡng, thuốc tẩy sạch dấu vết chỗ sạn nằm là khỏi, nên viết toa như sau:
Đơn Sâm 2,5 chỉ
Kê Nội Kim sao 4 chỉ
Lão Thục Địa 4 chỉ
Xuyên Khung 1 chỉ
Đông Quỳ Tử 3 chỉ
Hổ Phách 2 phân (gói riêng, nghiền uống kèm theo nước)
Phục Linh 3 chỉ
Cam Thảo sao 7 phân
Bạch Thược 2,5 chỉ
Xuyên Quy 3 chỉ
Hoài Ngưu Tất 2,5 chỉ
Cách dùng: Cho 2,5 chén nước sắc còn 7 phân, nước nhì 2 chén sắc còn 6 phân. 2 nước
hòa chung chia uống ấm 2 lần với bột Hổ Phách lúc đói trong ngày. Cách một ngày uống
một thang. Uống hết 3 thang, bệnh nhân bình phục kể cả chứng Tim và bao tử.
Sự thật, đáng lẽ là phải có một tễ thuốc bồi dưỡng nội tạng ít nhất 20 ngày. Nhưng vì
bệnh nhân nghèo nên đến đây chấm dứt. Đến 2 tháng sau bệnh nhân gặp lại thấy khỏe
mạnh mập mạp và chứng Tim, bao tử cũng khỏi hẳn.

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading