BỆNH ÁN CHỮA BẰNG BÀI BÁT VỊ (Cẩm nang)

BỆNH ÁN CHỮA BẰNG BÀI BÁT VỊ (Cẩm nang)

  1. Bệnh kinh giản. Uống Bát vị hoàn bội Thục địa gia
    Ngưu tất, Ngũ vị.
    Chữa con nhà họ Kim, 14 tuổi, bị bệnh kinh giản mạch
    hồng huyền hữu lực, duy hai mạch xích thì nhược, bệnh này
    là phần âm thiếu hết, cô dương không thu liễm lại, tính hỏa
    bốc lên mà ngã ngất, (nếu dùng thuốc tiêu đờm trấn kinh thì
    hao chân âm) cứ dùng bài Bát vị hoàn (bội Thục địa 1 cân,
    dùng nửa cân cho vào nước trong nấu lấy nước bỏ bã lại
    dùng nửa cân kia cho vào nước ấy nấu nhừ mà trộn thuốc
    vào, Mẫu đơn 4 lạng, Phục linh 3 lạng sao với sữa, Sơn dược
    4 lạng, Trạch tả 2 lạng sao muối, Ngũ vị 2 lạng, Ngưu tất,
    Phụ tử, Nhục quế đều 1 lạng rưỡi, viên với mật ong, mỗi lần
    uống 4 đồng cân, uống với nước muối nhạt), làm cho chân
    dương được chứa kín lại, nhưng dương không có âm thu liễm
    thì làm sao mà chứa được lâu, hỏa không có thủy chế lại thì
    khó khỏi bốc lên, nên dùng đại tễ thuốc tráng thủy, (Thục
    địa 1 lạng, Đan sâm, Phục linh, Đan bì đều 1 lạng rưỡi, Sinh
    bạch thược 2 đồng, Mạch môn 3 đồng, Viễn chí 1 đồng 2,
    Ngưu tất 3 đồng, Ngũ vị 1 đồng, Đăng tâm 10 đồng, Liên
    nhục 10 hạt, sắc uống), kế đó để giúp cho cái thế chứa kín
    cho uống tiếp 1 viên Dưỡng tâm thanh phế hóa cao tư (Táo
    nhân 4 lạng, Đương quy 3 lạng, Thục địa 8 lạng, Thạch hộc,
    Bạch thược đều 3 lạng, Mạch môn 2 lạng, Ngưu tất 3 lạng,
    Viễn chí 2 lạng. Trước đem 1 cân Liên nhục nấu lấy nước
    đậm, cho Nhân sâm vào 3 lạng, Phục thần 4 lạng, Phục linh
    3 lạng tán nhỏ hòa vào làm viên, mỗi viên nặng 4 đồng cân,
    xa bữa ăn trưa hòa một viên với nước sôi mà uống) để điều
    hòa khí huyết, đó là cách chữa tận gốc bệnh, không chữa
    chứng kinh giản mà chứng kinh giản tự khỏi.
  2. Chứng bĩ khối [16]. Uống bài Bát vị gia Ngưu tất,
    Xa tiền, Ngũ vị, Mạch môn.
    Chữa con nhà họ Hà, 9 tuổi, bụng trướng có hòn, da thịt
    gày róc, tinh thần uể oải, tai có mủ, mắt đỏ hồng, chân răng
    chảy máu, hoặc có lúc thối nát sinh ho, hơi thở ngắn, chân
    nhức, không ăn không ngủ đã thành hoại chứng, mạch hoặc
    có lúc huyền hồng hữu lực, hoặc có lúc huyền vô lực, đó là
    do uống thuốc công phạt lâu ngày, (như thuốc tiêu tích
    thanh nhiệt), chân khí ở trong rối loạn, âm dương đã kiệt
    thành ra cái dấu hiệu rỗng bên trong, phù việt ra ngoài. Phải
    biết, các chứng bĩ khí sở dĩ phát sinh đều là do trung khí
    không kiện vận được, đến nỗi đờm thực khí trệ tụ mà không
    tan được, chứ cũng không phải là chất sắt đá gì cả (cho nên
    cổ phương tiêu tích tất kiêm cả Sâm Truật để giúp chính khí
    hóa chất trệ. Sao mà lại lấy thuốc hữu hình để đánh mạnh
    chất trệ vô hình, trung khí càng yếu ủng trệ càng nhiều. Thử
    nghĩ, thuốc không lợi tất phải nhờ trung khí để vận hành,
    người ta sau khi khí đã tuyệt rồi mà còn đổ hàng cân Đại
    hoàng, Ba đậu vào, há còn thông lợi một vật gì cho nhanh
    chóng được, đó là người bệnh không còn khí để vận hành thì
    tuy uống vào bụng cũng như đặt vào trong đồ giấy, gỗ, cứ ì
    ra không nhúc nhích. Nghĩ như thế thì loại bĩ tụ há không
    làm cho trung khí vận hành ư? Cứ cho uống bài Kim quỹ
    thận khí gia vị làm một đại tễ, uống ấm khi đói lòng. Vài
    thang thì bệnh nhiệt trướng bớt. Tiếp theo đó, cho 3 đồng
    cân Sâm, sắc lên hòa vào mà uống, được một tuần thì tinh
    thần hơi mạnh, mỗi buổi sáng dùng bài Sinh mạch ẩm chiêu
    với thuốc Bát vị hoàn gia Ngũ vị, Ngưu tất đều 3 đồng cân,
    chiều thì cứ chiếu thang trước (Kim quỹ thận khí gia vị với
    Sâm) mà uống, điều trị hai tháng, các chứng đều hết, bệnh
    bĩ ngày trước không biết tan biến đi chỗ nào mất.
  3. Chứng thũng trướng. Dùng bài Bát vị bỏ Phụ, bội
    Thục địa gia Mạch môn, Ngũ vị, Ngưu tất.
    Chữa một cậu họ Trương, 16 tuổi, đau chứng sưng nề
    bụng (phúc thũng), nhiều thầy cho uống thuốc tiêu tích mà
    bụng càng trướng thêm, da thịt róc hết, hình như con cò ma,
    thế rất nguy ngập, ấy là thuốc uống nhầm chứ không phải
    bệnh xấu, cũng như đất khô thì chất đống lại, lại uống thuốc
    táo thì khắc phạt, khiến cho trung khí càng hư mà khó vận
    hành ra chân tay và các nơi khác, cho nên ủng trệ lại ở
    trong, trướng đầy càng quá, phải biết chỗ này lớn thì chỗ kia
    phải tiêu mòn, tóm lại cũng là một khí ấy không có thể làm
    tiêu hao đi được chỉ nên ôn dưỡng làm cho mạnh lên, tư âm
    để sánh lại với nó, bổ chân hỏa để sinh thổ, bổ ích trung khí
    để cho kiện vận thì thanh trọc tự chia ra được mà thũng
    trướng tự nhiên khỏi (cần biết các bệnh không ra ngoài chân
    âm chân dương mà người ta cầu để sống, đâu có vượt ra
    ngoài chân âm chân dương được, chân âm chân dương là
    yếu lĩnh của các bệnh nguy, thực là căn bản để cần sống
    đó). Cứ cho dùng bài Bát vị sắc uống để tư nhuận cho thủy
    khỏi khô, kim khỏi táo; lại khiến cho phế khí dồn xuống thận
    cho có nơi có chốn, uống được 10 thang thì khỏi dần, vẫn
    đem thuốc thang ra làm thuốc hoàn dùng bài Sinh mạch để
    chiêu, hơn một tháng thì khỏi. Đến mùa hè năm sau dưới hai
    sườn bỗng nhiên phát sưng rắn, dưới hai má cũng sưng như
    vậy, bởi vì năm ngoái căn bản chưa được bình phục, vào
    mùa hè dương khí bốc ra ngoài, khí của can và thận không
    được vững vàng ở phần dưới cho nên hỏa vô căn bốc cháy
    lên, thì các chỗ cơ năng gìn giữ mặc kệ cho nó nung nấu làm
    hại, chứ có độc gì, cứ dùng thang thuốc năm ngoái gia
    Thanh bì 4 đồng, Thổ bối mẫu 2 đồng sắc uống trước khi ăn
    cơm, uống không tới 10 thang thì khỏi.
  4. Nhọt mọc ở bắp chân (Thoái ung). Uống Bát vị
    thang gia Ngưu tất, Đỗ trọng.
    Chữa cho cháu họ Trương, 13 tuổi, bị mọc cái nhọt ở
    bắp chân, sưng đau dữ dội, sắc trắng mà lạnh như giá, về
    chiều nhức đau, 6 mạch trầm tế mà vi, mình mẩy sưng tấy
    lên, sắc mặt trắng bóng, đấy là vì bẩm thụ tiên thiên bất túc
    của tuổi già. Nội kinh nói: “Khí huyết bất hòa lưu kết làm
    thành nhọt”, nay làm cho khí huyết hòa thì không lưu kết
    nữa, nhọt còn mọc sao được, mới dùng Bát vị thang gia
    Ngưu tất, Đỗ trọng cho uống trước khi ăn, uống ba bốn
    thang thì bệnh được yên.
  5. Bỗng ngã vật ra (Thốt đảo)
    Uống bài Bát vị với nước Sâm. Bát vị hoàn gia Ngưu tất,
    Ngũ vị, Đỗ trọng, Lộc nhung. Chữa cho cụ Lại bộ họ Trương,
    vì làm việc quá sức, mỏi mệt, bị các chứng tai ù, hồi hộp.
    Một thầy thuốc chữa về mặt đờm, mửa ra hơn một đấu đờm,
    thế đờm tuy đã thanh mà tinh thần ở trong bị đoạt, nhưng
    làm việc lao tâm hết sức ngày càng tăng, năm sau thốt
    nhiên bị ngã vật ra, đờm trào ra đằng mũi sồng sộc, mắt
    trừng miệng há, chân tay cứng đờ, mồ hôi ra như mưa, sự
    nguy hiểm chỉ trong chốc lát, mạch thì sáu bộ đều rỗng to
    không có thứ tự, thế thoát đã đủ 80 – 90 %, vẫn phải dùng
    phép cứu vãn thế thoát làm chủ. (Nhân sâm 3 lạng, Bạch
    truật 2 lạng, Phụ tử 1 lạng, sắc nước mà nhỏ vào miệng)
    ngày uống 3 thang, đêm uống 2 thang, cứ chiếu theo giờ
    giấc đã định mà uống để bổ tiếp cái thế hư thoát, được vài
    ngày thì các chứng bớt dần, chỉ còn nằm gục bất tỉnh như cũ
    (Đó là chữa chưa đến mức, tuy các chứng đã hơi bớt mà
    thần khí bản nguyên đã tan mất chưa trở về được, không
    thể để chậm chạm được chút nào), cứ y phương trước, cho
    uống bội lên, mỗi lần uống thuốc rồi phải đổ cho uống nửa
    chén nước cơm đặc để bảo dưỡng vị khí và trợ dược lực. Có
    người khuyên lúc đó nên cho thêm các vị thuốc phong,
    thuốc đờm, thuốc thanh hỏa vào đó lại càng nhầm, bảo
    dưỡng còn e không kịp mà còn dám làm cho tán nữa ư? Bổ
    đó mà thực khó nổi mà lại còn dám thanh nữa ư? Nguyên
    dương muốn thoát, cứu vãn không kịp lại còn dám làm hại
    nữa ư? Vì trọng dụng Truật Phụ là đã làm mạnh thêm cho
    sức hồi nguyên Nhân sâm mà những cách chữa tiêu đờm,
    khu phong, dẹp hỏa đã đủ trong đó rồi, ví bằng hơi dính đến
    chữa tiêu (ngọn) thì trong sức bổ lại ngầm có tính công phạt,
    thuốc bổ thì không công hiệu, thuốc công phạt thì dễ phát
    hiện, một khi cái mối tẩu tiết đã mở ra thì chứng hư sẽ phát
    lên lung tung, bệnh thế càng thêm khó chữa) lại đến hai
    ngày mới nói được, người hơi tỉnh táo, tiếng thở khò khè,
    mắt trừng vẫn còn, về phần dương buổi sớm dùng thuốc đại
    bổ tâm tỳ khí huyết (như các loại Táo, Quy, Truật, Thược,
    Linh, Sâm, Quế, Vị, Viễn chí). Về phần âm buổi chiều thì
    dùng bài Bát vị sắc Sâm hòa vào mà uống, sáu bảy ngày
    sau các chứng đều khỏi dần, cứ sáng sớm dùng bài Sinh
    mạch ẩm để chiêu bài Bát vị hoàn gia Đỗ trọng, Lộc nhung,
    Ngũ vị, Ngưu tất 4 – 5 đồng. Giữa trưa uống bài Quy tỳ
    thang gia giảm, không đầy tháng thì bệnh nhẹ nhàng, mạnh
    mẽ như cũ. Ấy là không khu phong mà phong tự hết, không
    tiêu đờm mà đờm tự tiêu, không làm cho thư cân mà kinh
    lạc tự hoạt động. Chính như Phương thư bảo rằng: “Chính
    khí đã đắc lực thì tự đẩy hàn tà ra được”, cho nên hễ chữa
    bệnh nguy kịch, toàn phải chữa tận gốc, điều lý đắc lực thì
    tự nhiên tà không còn chỗ dung thân được nữa.
  6. Bán thân bất toại. Dùng Bát vị gia Ngưu tất, Đỗ
    trọng.
    Chữa cho quan tướng quốc họ Lý, đi dẹp giặc thành
    công, vì dầu dãi phong sương lâu ngày mà cánh tay trái
    cứng đờ mà đau, không thể giơ ngang đầu được, không thể
    vỗ ra sau lưng. (Các thầy thuốc cho là vì đêm hôm dầu dãi,
    đều chữa về mặt khu phong hoạt lạc, cũng chẳng ăn thua
    gì), đại tiện ra phân tròn như viên đạn, 6 mạch đại mà trì
    hoãn vô lực, đấy là vì trung khí hư đã lâu cho nên vinh vệ
    không đi khắp ra ngoài chót chân tay được mới thành hình
    chứng thiên khô (nếu quả năm trước cảm phong sương, há
    chỉ nửa người phải chịu mà thôi ư! Còn như đại tiện phân ra
    như hòn đạn, cũng do trung khí hư yếu, mệnh môn hỏa suy,
    vận hành không được mạnh, chuyển thâu chậm trễ, cho nên
    cặn bã không liên tiếp xuống thẳng, mặc kệ nó xuống dứt
    dứt nối nối như con bọ ngựa giỡn cái viên tròn, cho nên tuy
    tròn cũng cứ còn lớn, không phải như chứng quan cách, tân
    dịch khô khan, phân như phân dê, vẫn dùng bài Bát vị gia
    Ngưu tất, Đỗ trọng, mỗi lần chiêu 4 – 5 đồng cân với nước
    muối đun sôi để bồi bổ căn bản, lúc xa bữa ăn, lâu thì dùng
    Quy tỳ thang gia vị Quan quế ngọt nhẹ để làm mạnh phần
    tiêu (ngọn) trung khí nguyên dương một khi đã mạnh thì sức
    vận hành mới mạnh, khí huyết sung túc tự nhiên chạy ra
    khắp chót chân tay mà chứng ấy tự khỏi.
  7. Nhọt ở lưng (bối thư). Dùng Bát vị uống xen với
    thuốc khí huyết.
    Chữa cho cụ Tư Hồng họ Tưởng, lâu nay thấy mạch
    thốn mạnh xích yếu, nhân vì khó nhọc, đến khoảng tháng 9
    bị chảy máu mũi nhiều tuy khỏi rồi mà miệng lại khát nước
    quá (vì thất huyết), uống tợn, tuy tới vài chục chén cũng
    không đã, đáng lý phải làm mạnh chân thủy để ngăn bệnh
    biến sinh ra, nhưng lại xem thường bỏ qua, đến mùa hè
    bỗng nhiên thấy trên lưng nhức đau ngầm ngầm, rồi dần
    dần đau dữ, thịt rắn lại, cũng chưa biết là nhọt, hơn nửa
    tháng thì lưng đau quá chừng, khoảng cách xương sống nửa
    tấc, ngoài tuy không sưng, chỗ thịt rắn chắc rộng như cái
    bát (đấy là do khát đã lâu không chữa, âm thủy ngày càng
    thiếu, âm hỏa ngày càng thiêu đốt, vinh vệ mất sự điều hòa,
    cho nên phương thư có cách dự phòng não thư, bối thư, nay
    tuy không sưng, phần âm đã bị thương tổn), gấp phải đưa ra
    phần dương cho chóng, chớ để hãm vào tạng phủ, nên dùng
    ngoài (Đại hoàng 2 lạng, Lá Phù Dung, Xích thược, đều một
    lạng, Bạch cập, Bạch liễm đều 5 đồng, bỏ vào lòng trắng
    trứng gà hòa đều đắp xung quanh nhọt cho thu lại). Trong
    thì tư dưỡng thận thủy kèm các thuốc giải thác (làm cho đẩy
    ra ngoài như loại Thục địa, Sơn dược, Thổ bối mẫu, Giác
    thích, Thiên trùng, Giáp phiến, Sinh cam thảo, Liên kiều, Kim
    ngân hoa). Nhọt đã sưng thành hình, cứ buổi sáng lúc đói
    lòng cho uống 5 – 6 đồng cân Bát vị hoàn để bồi dưỡng thủy
    hỏa tiên thiên. Lúc xa bữa ăn thì cho uống thuốc đại bổ vinh
    vệ, lại dùng thuốc bài nùng thác lý (tiêu thông ở trong) để
    giúp cho khí huyết hậu thiên (Nhân sâm, Sinh kỳ, Quy,
    Truật, Thược, Thiên trùng, Giáp phiến, Bạch chỉ, Kim ngân,
    Thảo tiết, mỗi ngày uống 2 lần), ngoài dùng Thái ất cao gia
    tóc đàn ông, Tỳ ma, Nhũ hương, Một dược nấu thành cao mà
    dán để rút khí độc ra ngoài, xung quanh vẫn đắp thuốc
    trước để cho khỏi lan ra, điều lý như thế không đến một
    tuần mà chỗ sưng tấy mỗi ngày một cao, xung quanh chỗ
    sưng đỏ mỗi ngày một nhòn lại, đau nhức ngày càng bớt,
    lưng nặng ngày càng nhẹ, đã có thể làm mủ, vẫn cứ chiếu
    thang trước mà gia giảm, mỗi thang thì gia hơn một đồng
    cân Nhục quế, rồi như cái mụn nhỏ sưng rắn vỡ mủ là khỏi,
    không làm tổn thương quá đến da thịt, các chứng miệng
    khát giảm lui hết. (Phải biết các chứng sưng độc, nguyên
    không phải có độc, đó là khí huyết không hòa lưu kết lại mà
    sinh ra, hễ khí huyết được điều hòa, thì độc tự khỏi, chớ nên
    cho uống thuốc thanh lương giải độc lại tổn thương vị khí thì
    độc lại càng vào sâu).
  8. Chứng kiết lỵ nặng. Uống Bát vị dùng Quy tỳ làm
    thang tống.
    Chữa cho ông họ Vương bị kiết lỵ nặng đã lâu, đang
    mùa hè từ trên rốn đến bìu dái đều phải mặc hai ba lớp áo
    quần, hễ hơi mỏng thì bụng rốn càng đau dữ, hai chân rất
    nóng cứ muốn quạt, nhác ăn, thế rất nguy khốn. Mạch thì
    thốn mạnh, quan xích yếu, đấy là vì trung khí hư đã lâu, khí
    không lên xuống được, âm dương ngăn cách, giống lỵ mà
    không phải lỵ. Dùng nhầm thuốc Hương, Liên khổ hàn đến
    nỗi làm ngăn cản khí dương trở lại không hư (trống rỗng). Vả
    lại đi lỵ lâu, âm dương đều hư cho nên nóng ở lòng bàn chân
    là vì âm hư mà sinh ra, lạnh bụng là vì dương hư mà sinh ra,
    khí dương ở trung cung nên dùng phép thanh mà đưa lên,
    theo lẽ là khó làm được cả hai phép cùng một lúc, nhưng
    trước khi trừ những trở trệ của khí trung hàn khiến cho hỏa
    bị ngăn cản ở dưới, tự nhiên được đưa lên, vẫn phải dùng
    Đại phụ tử lý trung thang gia Ngũ vị để thu liễm lại, uống hai
    thang thì chứng bụng lạnh, chân nóng giảm được 60 – 70 %,
    liền cho uống tiếp Quy tỳ thang gia Quế, Ngũ vị sắc lên để
    chiêu với Bát vị hoàn thấy bệnh khỏi.
  9. Chứng chiêm bao ác mộng. Uống Bát vị gia Ngũ
    vị, Ngưu tất.
    Ông Uyển Bình Vương tự nhiên bị chứng chiêm bao
    thấy vận tải nặng nhọc rồi bị mệt lử tỉnh dậy, tỉnh rồi lại vội
    vàng nằm ngủ, ngủ rồi lại mơ như cũ, tỉnh rồi ngủ, ngủ rồi
    tỉnh mỗi đêm thấy vài mươi lần (thầy thuốc cho thuốc bổ
    tâm an thần càng không thấy bớt gì cả), mạch hai bộ thốn
    rất hồng hữu lực, đó là uống thuốc nhầm, vì khi ngủ là tâm
    thần tàng nạp vào thận âm là lúc thủy hỏa gặp nhau, âm
    dương giúp nhau. Tâm cũng như người, thận cũng như cái
    nhà, nay khí âm trong tâm không đủ, duy có mình hỏa găng
    thịnh mới thành cái thế bốc cháy lên, mà mất cái dấu hiệu
    giao tiếp xuống, thận khí lại hư không có thể bốc lên, thu
    nhiếp khí âm ở quẻ Ly, mà mất hẳn cái chức năng đón nạp,
    đóng kín, người ta chỉ biết có tâm hỏa thận thủy mà không
    biết tâm là quẻ Ly thận là quẻ Khảm ư? Khí âm trong quẻ Ly
    là chân thủy, khí dương trong quẻ Khảm là chân hỏa, thủy
    hỏa đều tàng chứa bắt rễ lẫn nhau, cho nên tâm có thể
    giáng xuống, thận có thể thu nhiếp lên, nay hai tạng đều hư
    mới thành cái hiện tượng không giao nhau, kẻ không hiểu lại
    bổ tâm thần càng làm tăng cái thế bốc lên, làm sao mà
    khiến cho dương hội ở phần âm, nguyên thần ngưng tụ ở
    trong được (Tĩnh Công nói: “Thần tất dựa vào vật, tinh có
    thể ngưng tụ thành thần” ấy là lý), mới trọng dụng thang
    Bát vị gia Ngưu tất, Ngũ vị, dùng Đăng tâm, Liên nhục làm
    thang để dẫn thuốc uống, sắc uống rồi bệnh yên.
  10. Chứng đánh rắm. (Trung tiện). Uống Bát vị gia
    Lộc nhung, Ngũ vị, Bổ cốt chỉ làm viên.
    Chữa cho cụ già họ Dư, uống Sâm mãi rồi hoặc có lúc
    khí nghịch công lên, hoặc có lúc khí sa bức bách xuống, đi
    tiểu tiện đại tiện đều nặng nề, đánh rắm luôn, đại tiện tuy đi
    nhão nhưng lại không khoan khoái lắm, mạch tế sác vô lực.
    Phải biết trung khí hư lắm dương khí không thể phát đạt
    được ra bên ngoài, núp ở trong mà hãm xuống dưới, trước
    uống Bổ trung ích khí, nhưng nào có biết càng đưa lên mà
    khí càng trệ, huống chi hơi của Trần bì tân tán, thành ra đầu
    mối để tiết ra mà lại tiết ngấm mất hết nguyên khí, há
    không nghe câu “nhân tắc mà dùng thuốc tắc” đó ư! Nhưng
    uống lâu thuốc bổ khí mà khí không mạnh lên là chưa chữa
    vào đến căn bản, căn bản mà không vững thì khí do đâu mà
    sinh ra, vẫn dùng Bát vị gia Lộc nhung, Ngũ vị, Bổ cốt chỉ
    làm viên, nấu nước Sâm mà chiêu lúc đói lòng. Lại dùng Nộn
    hoàng kỳ 1 cân mà sao, Bạch truật 4 lạng, Phụ tử 4 lạng, ba
    vị sắc lấy nước bỏ bã ngào thành cao, dùng Nhân sâm 6
    lạng vò thành viên nhỏ, buổi trưa, lúc xa bữa ăn thì uống 4
    đồng cân, Kỳ có thể thăng, đẩy ra, Truật có thể giữ vững
    trung tiêu, Sâm bổ khí, Phụ hồi được dương, 4 vị cùng một
    tễ thì lo gì khí hư hãm xuống ấy không phấn chấn phát sinh
    ư! Uống rồi thì bệnh lành hẳn.
  11. Chứng cảm mạo. Bát vị bỏ Đơn bì gia Ngưu tất
    làm thang, bỏ Đơn, Trạch, gia Lộc nhung, Hổ hĩnh, Đỗ trọng
    làm viên.
    Chữa cho rể ông Tuần phủ họ Chu, vì đi công tác bị cảm
    mạo, thầy thuốc cho uống loại phát tán giải cảm lung tung
    đã 50 – 60 thang, không động đến hạt cơm, chỉ uống nước
    lạnh mà thôi, hạ bán thân rét lạnh mà tê dại, dần dần rồi
    bụng ngực cũng lạnh ngắt, khắp người không biết đau ngứa,
    nói năng không ra tiếng, khó thở, ai cũng đều cho là chữa
    không được, mạch thì trầm vi muốn tuyệt, thế không thể để
    trì hoãn được, vẫn dùng Sâm 3 lạng, Phụ 3 đồng, sớm và
    chiều đều uống 1 thang, để gìn giữ lấy khí nguyên dương
    còn như sợi tơ, uống rồi dần các chứng buồn bực vật vã, dần
    dần thấy yên ngay, vài ngày sau mạch mới hơi lên, tay chân
    mình mẩy không lạnh thấu xương như trước nữa, lại cho
    uống Phụ tử lý trung thang bỏ Cam thảo, cứ sáng và chiều
    đều uống 1 thang, cho uống nước cơm sôi chận lên, vài
    ngày thì lạnh bớt, thần khí tỉnh táo, rồi sớm vẫn uống Lý
    trung thang, quá trưa thì nấu Sâm để chiêu Bát vị hoàn (bỏ
    Đơn bì gia Ngưu tất), sau vài ngày xương đau không chịu
    được, đó là dấu hiệu khí dương phục hồi, giá lạnh tiêu tan (là
    sống). Điều trị nửa tháng mới ăn được cháo loãng, sau dùng
    bài Bát vị bỏ Mẫu đơn, Trạch tả gia Lộc nhung, Hổ hĩnh, Đỗ
    trọng, Ngưu tất làm viên, mỗi buổi sáng và chiều nấu Sâm
    lên và chiêu 5 đồng cân, rồi uống xen bài Thập toàn gia
    giảm, ngày càng thấy nhanh nhẹn mà mạnh dần lên, hơn
    một năm mới cưỡi được ngựa, nhưng mỗi năm đều đau bụng
    gần chết, cứ phải uống thuốc ấm mới khỏi, và mạch xích
    thường vi, từ khi bệnh ấy khỏi rồi thì đẻ con gái rất nhiều và
    dễ nuôi, sinh con trai rất ít mà khó nuôi, mới biết rằng cái tai
    vạ do thuốc hàn lương còn lại không chỉ ở mỗi bản thân mà
    thôi, tôi khuyên là thường phải uống Bát vị hoàn, lâu rồi có
    con trai.
  12. Chứng ỉa lúc mờ sáng (thận tả). Uống Bát vị
    hoàn gia Thỏ ty, Ngũ vị, Bổ cốt bỏ Đơn bì, Trạch tả.
    Chữa cho ông Kim Thiệu bị bệnh đi ỉa về lúc mờ sáng,
    hai mạch thốn quan đều trầm nhược vô lực, hai mạch xích
    lại trầm vi hơn, nói rằng người trai trẻ mà thấy mạch này thì
    không những bệnh đi ỉa lúc mờ sáng nhỏ nhen khó khỏi mà
    sinh con rất nhiều gái ít trai (Lúc thường xem mạch ai cũng
    từng kinh nghiệm như thế, không những một mình ông
    Thiệu) rồi cho uống Bát vị bỏ Mẫu đơn, Trạch tả gia Bổ cốt
    chỉ 3 lạng, Ngũ vị 2 lạng, Thỏ ty 4 lạng làm viên sáng và
    chiều đều uống 5 đồng, sau 1 năm quả là đẻ được con trai,
    mới thấy lẽ âm dương thịnh suy thật là có quan hệ lớn đến
    bệnh tật an nguy. Huống chi tinh huyết câu kết lại mà sinh
    con trai hay con gái lại càng gắn chặt với lý lẽ của âm
    dương là thế. Cho nên trong sách Tinh yếu nói: “Uống lâu thì
    béo khỏe nhiều con” là đúng.
  13. Bệnh sốt rét. Uống Bát vị xen với Thập toàn.
    Chữa cho ông Tường Sinh bị bệnh sốt rét, lúc nóng thì
    lợm giọng, ngực trướng quá chừng (thầy thuốc cho là sốt rét
    do đờm do đồ ăn, dùng thuốc tân nhiệt, cho uống trong khi
    đang nóng dữ, không biết ông này vốn có chứng nục huyết,
    chảy máu vài đấu, mê man bất tỉnh, ra mồ hôi lạnh đông
    thành hạt, chân tay cũng lạnh), mạch vi muốn tuyệt, vẫn
    dùng Độc sâm hơn 1 lạng, sắc lấy nước giỏ vào miệng, hơi
    tỉnh nhưng lại nấc liên thanh, vẫn phải trọng dụng thuốc ôn
    bổ mới dần dần khỏi, rồi tiếp cho Bát vị hoàn uống xen với
    Thập toàn đại bổ hơn một tháng là khỏi.
  14. Chứng sốt rét nặng. Uống Bát vị bội Thục địa gia
    Ngưu tất, Ngũ vị.
    Chữa cho bà cụ họ Hàn đau bệnh sốt rét rất nặng, nóng
    dữ, không có mồ hôi, sáu mạch hồng đại mà hư. Hễ mồ hôi
    là sinh ở phần âm, thận chủ 5 chất dịch, nay sáu mạch có
    dương không có âm há lại phát hãn được nữa ư, để đẩy cô
    dương vượt ra mất hết, vẫn cứ cho uống bài Bát vị thang
    (gia Ngũ vị, Ngưu tất, mỗi tễ dùng Thục địa 3 lạng, sắc còn
    hơn 1 bát cho uống luôn 1 lần), để tư dưỡng phần thủy, tức
    là để cho ra mồ hôi, quả là ra mồ hôi rồi khỏi, sau uống tiếp
    Thập toàn thang (bỏ Khung, Thảo gia Táo nhân, Ngũ vị dùng
    Sinh địa thay Thục địa) vài thang thì tinh thần khoan khoái
    bội phần.
  15. Chứng Hồng bạch lỵ. (đi ra máu mủ). Dùng thang
    Bát vị sắc Sâm hòa vào mà uống.
    Chữa cho cụ họ Trần đi lỵ ra máu mủ rất gấp, hai mạch
    thốn hơi hồng, hai mạch xích và mạch quan bên tả rất
    nhược, lưỡi có rêu đen, đó là do can không sơ tiết được, thận
    không đóng kín được, chân âm ở dưới rất thiếu, tân dịch ở
    trên khô kiệt, thủy lấn sang vị trí của hỏa, cho nên lưỡi đỏ
    biến ra đen, mất hẳn sắc hồng bản chất của nó, nhất thiết
    không nên cho uống Hoàng liên làm cho thêm hại, vẫn dùng
    Bát vị sắc Sâm hòa vào, uống một thang to thì khỏi.
  16. Chứng kiết lỵ kéo dài. Uống bài Bát vị Nhân sâm
    sao với gạo cũ làm thang tống.
    Chữa cho người cháu ông cụ họ Phùng bị chứng ỉa chảy
    đến nửa năm, bắp thịt gày róc, uống mãi thuốc chữa tỳ vị
    hậu thiên (Tứ quân, Tứ vật) không có hiệu quả, đó là vì đi lỵ
    kéo dài không khỏi, trung khí của hậu thiên vẫn hư mà hạ
    nguyên của thận cũng không đủ giữ việc bế tàng tròn chức
    trách, đừng có chăm chú ở tỳ mà cốt chữa ở thận, liền cho
    uống Bát vị hoàn dùng Nhân sâm sao với gạo cũ rồi sắc
    chung cho tan mà uống, không đến một tháng thì khỏi.
  17. Suyễn thở. Uống Bát vị hoàn dùng bài Sinh mạch
    mà chiêu.
    Chữa cho người cháu ông cụ họ Phùng, tuổi lên ba, bình
    thường sắc mặt trắng bợt, hở mỏ ác (thóp), xương sọ không
    khít, vô cớ một đêm bỗng nhiên phát suyễn thở nhẹ, dần
    dần suyễn thở nặng, thở ra nhiều mà hít vào ít, hai mắt dớn
    dác, đáng lý nên dùng phép “Bệnh trên chữa dưới”, vẫn
    dùng bài Sinh mạch để chiêu hoàn Bát vị, 4 – 5 ngày thì
    bệnh yên, lại cứ theo đấy để điều lý, được hai tháng thì thóp
    và sọ lớn đầy, mới thấy được cách dùng thuốc dẫn. Cũng
    một bài Bát vị mà một đằng thì dùng Nhân sâm sao với gạo
    cũ để dẫn đến hai tạng tỳ thận mà khí dương sinh ra, một
    đằng thì dùng Sinh mạch ẩm để dẫn đến hai tạng phế thận
    mà khí âm sinh ra, công hiệu khác nhau cho nên cho nên
    nói thuốc dẫn cổ nhân nhấn mạnh cái nghĩa mà đặt thành
    tên, người đời nay không nhìn đến tên mà nghĩ đến nghĩa ư?
  18. Bệnh đờm: Uống bài Lục vị gia Trần bì, Mạch môn,
    Ngũ vị.
    Chữa cho ông cụ họ Hồ, 60 tuổi, mắc bệnh hơn một
    năm, 6 mạch hồng đại hữu lực giống không phải là dương
    hư, lúc ấy đang tháng hè nóng nực, ra mồ hôi, sợ gió, ăn
    uống như thường, tinh thần ngày càng uể oải, đờm nhiều,
    nghẹt mũi, nửa năm trở lại cứ vơ vẩn suốt ngày, đó là âm hư
    không thu liễm được dương đến nỗi dương bốc lên, âm tẩu
    tán ra không phân được thanh trọc, tà hỏa tiêu cơm nước
    sinh đờm mà không sinh được huyết, đáng lý dưỡng âm thì
    dương có chỗ dựa, vẫn dùng Lục vị thang gia thêm muối sắc
    với Trần bì, Mạch môn, Ngũ vị mà uống, không hết ba thang
    mà tinh thần đã tỉnh táo trở lại, cụ ấy tạ ơn nói: “Chứng
    trầm trọng gia 10 tháng mà chỉ có 3 thang thuốc trở nên
    lành như cũ”.
  19. Chứng lậu máu (huyết lâm). Uống Bát vị gia
    Thăng ma, Mạch môn, Hồng hoa.
    Chữa cho ông cụ họ Lý 60 tuổi, đau lậu hai năm, có lúc
    ra nhiều, ra luôn mà lại chóng, có lúc nhỏ giọt khó thông,
    đau buốt như dao cắt, nước tiểu như mỡ như dầu, hoặc
    thành dây máu tía, người bệnh có lúc muốn tự tử (một ông
    thầy lập hai phương thông lợi và chỉ sáp, lúc sáp thì lợi, lúc
    lợi thì sáp, cả thầy thuốc và người bệnh nhìn nhau mà bực
    tức).
    Xét về mạch thì hai bộ thốn hồng đại, các bộ khác đều
    vô lực, riêng bộ can và thận thì càng vô lực hơn, đó là can
    chủ sơ tiết, thận chủ bế tàng, sơ tiết hay bế tàng đều có
    chuyên trách riêng thì còn phải dùng đến dược lực làm chi.
    Nay vì can thận đều bệnh, đều bỏ chức năng của nó, hễ cho
    lợi thì càng làm hư cho bệnh đã hư, cho sáp thì càng làm
    thêm trệ, chỉ có điều bổ can thận để cho nó đều gắng sức
    làm chức vụ của nó thì bệnh tự nhiên lành. Vẫn cho uống
    Bát vị gia Mạch môn 2 đồng, Thăng ma 8 phân, Hồng hoa 4
    phân, sắc xong hòa vào nước Sâm mà uống, khiến cho khí
    trong đi lên, khí đục đi xuống, chỗ ứ hóa tan, trung khí một
    khi đã đủ thì tự có thể lên xuống, can thận đã điều hòa thì
    sự mở hay đóng được đúng lúc, uống thuốc sẽ yên dần dần,
    sau dùng bài Sinh mạch chiêu với Bát vị hoàn, chiều đến
    uống xen với Quy tỳ gia giảm mà khỏi.
  20. Bệnh lúc có mang. (Đau bụng, đi ỉa lúc mờ sáng,
    trên nóng dưới lạnh). Uống Bát vị hoàn để bổ âm dương.
    Chữa cho một người đàn bà có mang, mạch bộ thốn
    cường, bộ xích nhược, đau bụng đi ỉa lúc mờ sáng, hư hỏa
    bốc lên, miệng khô, buồn bực vật vã, ăn uống khó tiêu,
    ngang lưng nhức, đùi mềm, trên nóng dưới lạnh, vẫn dùng
    Bát vị hoàn cho uống rồi lành, mẹ con đều yên, đấy là đúng
    như câu: “cần phạm thì cứ phạm, tựa hồ như không phạm”.
    Nếu nệ với câu: “Quế Phụ làm sẩy thai” mà trở lại dùng
    thuốc khổ hàn thì chẳng lầm hay sao? Làm thuốc không nên
    câu nệ phương, thực là lời cách ngôn. Hai phương Lục Bát vị
    dùng chữa bệnh có mang để bổ âm dương, sách Y quán đã
    căn dặn rõ ràng, huống chi “thuốc hoàn có nghĩa là hoãn”,
    hàng ngày chiêu dần, tạng phủ sẽ quen dần với thuốc, vả lại
    có Thục Thù để ủng hộ, Quế Phụ chỉ có ích lợi về mặt ấm
    nhuần, nuôi lớn phục vụ cho thượng bán thân, nào có lo gì
    đến việc sẩy thai, hại thai (Duy mạch Hồng đại hữu lực,
    huyết nhiệt, vị khỏe mà sinh bệnh thì nên dùng loại Xa tiền,
    Ích mẫu, Điều cầm, nhất thiết phải kiêng dùng thuốc cay
    nóng, cay ấm, trăm bệnh đều thế há chỉ bàn riêng về chữa
    bệnh có mang đâu), vì thuốc cực lạnh, cực nóng, cực bổ, cực
    công nếu dùng được đúng thì có thể cứu người, nhưng
    chứng nóng giả, thực giả mà cho uống nhầm thuốc hàn
    lương để công phạt thì giết người không thể cứu vãn kịp,
    còn chứng hàn giả, hư giả mà dùng nhầm thuốc ôn bổ thì
    chỉ làm tăng thêm cái bứt rứt buồn bực mà thôi. Cho nên
    bậc hiền triết ngày xưa có nói: “Dùng phép chữa bất túc
    đem chữa chứng hữu dư thì được, dùng phép chữa hữu dư
    đem chữa chứng bất túc thì không được”, cũng có căn cứ.
  21. Bệnh lúc có mang. Uống Bát vị gia Ngũ vị, Ngưu
    tất.
    Chữa cho một cô dâu, trước bị chứng thổ huyết, đêm
    nóng, từ khi có mang trở đi uống bài Bát vị gia Ngưu tất,
    Ngũ vị, ngày nào cũng uống không gián đoạn, đến khi đẻ
    nước nguồn (ối) đã chảy ra vài ngày mà chưa đẻ, 6 mạch
    hồng huyền mà hơi cứng, ấy là đường âm khô kiệt không
    được lưu thông cho uống thuốc dưỡng huyết bổ khí, thôi
    sinh, mạch hậu vẫn như cũ, tất là chân âm chân dương,
    chân khí thiếu quá, phải làm cho điều bổ khí huyết không đủ
    để giúp đỡ cho chỗ rất thiếu, rất hư, mới đơn thuần dùng
    Thục địa 3 lạng, sắc đặc cho uống 3 lần, mạch mới hồng
    hoãn mà nhuyễn nhưng vài ngày thì tinh lực của mẹ lẫn con
    đều kiệt, không nghe động chút nào, ngờ là thai đã chết,
    cũng cho Nhân sâm 5 đồng sắc đặc, dùng Nhục quế tốt (sắc
    tía, vị ngọt, khí thơm) tán nhỏ hơn một đồng hòa vào cho
    uống. Sau đó bụng đau thai trụt xuống được một chút lại
    cho uống nữa cũng thấy như thế liền cho uống luôn 3 – 4
    thang mới đẻ được, đứa bé khóc được một vài tiếng nhưng
    không động đậy gì, mọi người đều cho là khó sống, đem để
    xuống đất, chỗ có ánh sáng mặt trời chiếu tới. Hắt hơi cất
    tiếng khóc mà sống, cũng ví như cái gương lấp lánh ở trong
    nhà mới nhờ được mặt trời phản chiếu đến liền từ chỗ vô
    hình hóa ra hữu hình. Lại sực nhớ trong thiên Dưỡng sinh
    nói: “Hỏa là truyền mãi không lúc nào hết được”, từ xưa đến
    nay chỉ thứ hỏa ấy truyền mãi mà sinh mạng cứ tiếp tục là
    do bổ dưỡng được đúng mức. Đáng tin thay thủy hỏa là căn
    bản nuôi sống con người mà chỗ gần tuyệt lại sống lại được.
  22. Cầu tự. Uống Bát vị bội Thục địa.
    Chữa một người hiếm hoi, mạch hữu xích ấn mạnh thì
    vô lực, là do chân dương không đủ, tả xích không trầm
    không như thạch là vì chân thủy lại hư, mới cho uống Bát vị
    hoàn, nhưng vì chân âm thiếu quá, phải nấu riêng hơn 1 cân
    Thục địa, ngào thành cao 3 lạng, để thay mật làm viên. Tinh
    ba của ngũ tạng đều thu nạp về thận, thận là nơi tụ hội của
    các cơ quan. Nhưng tinh sinh ở huyết, huyết kém thì làm gì
    sinh được tinh, tâm chủ huyết cho nên không con thì trách
    cứ vào tâm, bạc đầu thì trách cứ vào thận, cho nên người
    xem trọng việc cầu tự thì chẳng những phải bổ thận mà
    càng nên dưỡng tâm, lại nên điều hòa ngũ tạng, làm cho
    tinh khí của ngũ tạng thường thịnh vượng luôn, mà tràn đầy
    tới thận được dồi dào, phỏng như bốn tạng không được tươi
    nhuận thì còn lấy gì mà thu về thận được. Cho nên tâm
    thuộc hỏa mà sánh với quẻ Ly, Ly là âm, thủy ở trong tâm là
    chân thủy; thận thuộc thủy mà sánh với quẻ Khảm, Khảm là
    dương, hỏa ở trong thận là chân hỏa, tâm thận đều bắt rễ
    lẫn nhau, thủy hỏa mà được “ký tế” thì khí xông bốc mới
    ngưng tụ lại mới hình thành thai nghén. Lại dùng thuốc
    dưỡng vinh ích vệ, tư nhuận ngũ tạng làm viên để dùng lẫn.
    Phương thuốc cao viên
    Nộn Hoàng kỳ 4 lạng, sao mật cùng với Nhân sâm bổ
    khí làm quân, khiến cho âm theo dương mà lớn, vô hình sinh
    ra hữu hình.
    Đương quy 3 lạng, sao rượu, dưỡng huyết, thông huyết,
    khiến cho phần vinh điều hòa, theo phần khí mà phát sinh
    ra, dùng làm thần.
    Táo nhân 5 lạng, sao chín, đến khi nấu giã cho nát, sắc
    đỏ tượng quẻ Ly, khí thơm vào tỳ, vị chua vào can cho nên
    yên tâm, bổ can cho nên nuôi cả tỳ thổ, dùng chung với
    Đương quy thì Đương quy nuôi huyết ba tạng. Táo nhân bổ
    khí ở ba tạng, dùng làm thần.
    Thục địa 6 lạng, dùng dao đồng thái phiến, tính trọng
    trọc, tượng trưng cho khí đất, ngọt ấm nuôi khí âm, đã tư bổ
    chân thủy lại nhuận các kinh, cùng với Bạch truật hợp lại
    một thang thì Truật bổ tỳ khí để giữ tính táo của thổ, Thục
    địa bổ thêm sự nhu nhuận cho tỳ âm để giúp cho sự hóa dục
    của thổ, một vị táo, một vị nhuận, thổ là mẹ của muôn vật,
    lại cũng dùng làm thần.
    Bạch truật 4 lạng, sao với sữa cho vàng, khí vị thơm
    hòa bình được chính khí của âm dương, ngọt ấm, khí mạnh,
    bổ trung khí tỳ nguyên và cùng với Thục Thược hợp thành
    một thang thì Thục đã chuyên công về mạnh thủy lại tư
    nhuận được tỳ thổ. Bạch truật chuyên bổ tỳ dương, Bạch
    thược chuyên bổ tỳ âm, khiến cho tỳ thổ mạnh mà không
    táo mới làm tròn chức năng thấm nhuận, dùng làm thần.
    Viễn chí 2 lạng, sắc nước Cam thảo tẩm, dùng thứ nhục
    bao lấy ruột mà sắc vàng, cho nên an tâm dưỡng thần mà
    sinh được tỳ thổ, vị cay mà nhạt nhạt cho nên trừ được khí
    âm ế, chân tinh mới sinh ra được, cay thì tán được đờm dãi
    khiến cho chỗ tâm được sáng suốt không u tối giúp cho thận
    khí, khiến cho chân tinh chứa kín không sót, dùng chung vào
    với thuốc chữa ba kinh tâm, tỳ, thận, vị này vị nọ giúp nhau
    mà thành công, dùng làm tá.
    Mạch môn 3 lạng, sao với gạo cũ, vì thủy thiếu thì kim
    càng táo, mẹ con mất tình nghĩa sinh nuôi nhau, chiếu cố
    nhau, cho nên cùng với Thục Truật hợp làm một thang thì
    trên có thể thừa tiếp khí mẹ mà không hết, dưới có sinh
    được khí con mà có thừa, nhưng tính hơi hàn nhu không
    kiêm chữa được cả hai tạng tỳ phế cho nên cùng sao với
    gạo, khiến cho thổ và kim đều được bổ ích, để làm tá.
    Bạch thược 2,4 lạng, sao với mật rượu, ngọt lạnh vào
    tỳ, chua liễm vào can, đã giúp cho Đương quy hòa can huyết
    lại giúp cho Bạch truật dưỡng tỳ âm, có thể thành công giúp
    đỡ, dùng làm tá.
    Đỗ trọng sao 3 lạng, sao rượu, trước đã đại bổ vinh vệ,
    nhưng khí huyết đã đầy ở trong há không nên đưa vị này để
    vận hành kinh lạc, khiến cho gân xương được khỏe mạnh ư?
    Cho nên dùng vị này để vận hành, bổ ích chỗ khoảng đốt
    xương, lại có thể tiếp dẫn các vị thuốc đi sâu vào thận, và
    cùng với Tục đoạn bổ nốt khoảng đốt xương thì thân thể
    được nhẹ mạnh hẳn.
    Tục đoạn 3 lạng, Thục địa chuyên bổ thận tinh, Đỗ
    trọng chuyên bổ thận khí, lại bổ được khoảng gân xương.
    Tục đoạn điều lý ở trong đốt xương, đều được lợi ích cả,
    dùng làm sứ.
    Ngưu tất 3 lạng, sấy rượu, dẫn các thuốc xuống làm
    cường tráng hạ nguyên, vả lại khiến cho trọc âm đi xuống,
    thì thanh dương đi lên được, nhưng sợ chạy xuống nhanh
    quá, chưng với rượu để cho dịu đi, dùng làm sứ.
    Liên tử 3 cân, bỏ tim bỏ lụa. Đổ nước hơn 30 bát, sắc
    lấy nước bỏ bã, cho thuốc trước vào sắc chung, lấy 3 nước,
    bỏ bã, ngào thành cao, lại cho thuốc tán sau này vào.
    Nhân sâm 5 lạng, tính vị hòa bình, đại bổ nguyên thần,
    có thể bổ âm có thể bổ dương, dùng để làm quân, cùng
    Hoàng kỳ để điều nguyên khí ở phần biểu và lý, cùng Quy
    Truật để bổ ích âm dương, hợp với Táo nhân để yên tâm,
    cùng với Thục địa để bổ thận, đi tới đâu cũng được.
    Bạch phục linh, Phục thần đều 3 lạng, tán nhỏ, vị Phục
    linh thấm nhạt, giúp Bạch truật để dưỡng tỳ, Phục thần có
    thể giữ vững, giúp Táo nhân để yên tâm, đều dùng làm sứ.
    Hòa vào cao làm viên, lúc đi ngủ uống một viên chừng 4
    đồng cân với nước sôi, hoặc nhai với nước bọt mà nuốt. Do
    đó mà xem, một mặt dùng Bát vị để bổ phần thiếu kém của
    tiên thiên, một mặt dùng thuốc cao viên để bổ phần phát
    sinh của hậu thiên, thì con cái sẽ đông đúc.
  23. Cầu tự. Uống Lục vị gia Mạch môn, Ngũ vị (Trước
    đó có bệnh đờm hơn một năm, uống ba thang thì lành).
    Chữa ông lão họ Hồ, tuổi già hiếm con dùng bài Vọng
    định hoàn. Nguyên ông lão này mạch thuần dương nên cho
    uống thuốc thuần âm, âm dương đã hòa là nhất định có con,
    vẫn dùng Lục vị hoàn gia Mạch môn, Ngũ vị là đủ, được vài
    tháng người vợ lẽ có thai, miệng nhạt lạ thường, trong ngực
    buồn bực bối rối, mạch thì hai bộ thốn và bộ hữu quan rất
    hồng, tả xích thì hữu lực, ấy là tinh ba dồn xuống để nuôi
    thai, chỉ nên dưỡng âm để giúp thêm chứ không có hại gì.
    Đến 5 tháng bụng tuy hơi lớn, ấn vào rất mềm vả lại lúc bên
    tả lúc bên hữu, khoảng ngang lưng thường động; ngang
    bụng thì không chút ảnh hưởng gì (thầy thuốc cho là quái
    thai, muốn công trục ra, tiên sinh cố sức can ngăn), đến
    ngày tháng bụng dạ không đau mà bỗng muốn sinh, lão Hồ
    cho là mạng mẹ khó bảo toàn, nhiều lúc phàn nàn hối hận,
    không hiểu được cái lẽ “Quả chín thì hương thơm, dưa chín
    thì cuống rụng”, chín quá thì trụt xuống, không đau mà sinh
    cũng là lẽ thường, chi thể đẫy đà, nước ối có thừa, cho nên
    ngang rốn và bụng thì không rõ rệt, hai bên ngang lưng máy
    động không phải thai là cái gì? Tinh khí sinh ra hàng ngày
    xuống nuôi thai khí, trong vị không có tân dịch cho nên thấy
    miệng nhạt còn đáng ngờ, nói vừa dứt lời thì có người chạy
    đến thưa rằng đã sinh một cậu con trai rồi. Lúc ấy không
    còn gì nghi ngờ nữa, ông lão quỳ gối tạ rằng: “ông chữa
    được bệnh nặng của lão, bản thân lão đã được bổ ích, lại
    còn bảo vệ được con nối dõi của lão, tổ tiên lão cũng được
    chịu ân nữa”.
  24. Chứng thạch thư. Uống bài Bát vị xen với thuốc
    bổ khí huyết.
    Chữa cho bà cụ họ Triệu 70 tuổi, má bên trái sưng rắn,
    lan đến cằm, gáy, sau tai một đám cứng ngắt, không nóng
    không lạnh, hơn hai tháng uống bao nhiêu thuốc giải độc,
    thuốc công, thuốc thác lý đều không được một chút hiệu
    quả gì, dần dần đến trong miệng ra mủ, răng cắn chặt
    không hở, ăn uống giảm sút, tinh thần ngày càng suy, mạch
    hồng đại mà rỗng, đó là khí huyết đại suy, âm hàn tụ lại.
    Sách gọi là chứng Thạch thư, nếu không được khí dương hòa
    thì làm sao mà giải ra được, vỡ ở trong thì ắt thủng hầu loét
    má thì không chữa được nữa. Vả trong Sách nói: “Người già
    khí huyết suy thì không chữa được”, mới dùng mỡ heo giã
    nhừ để chữa máu thịt, lấy nghĩa đồng khí tương ứng với
    nhau, dùng Nhục quế tán nhỏ khiến cho kích động phần
    huyết, dùng Củ hành có thể thông được khiếu, muối ăn có
    thể làm mềm chất rắn, đem giã chung thật đều trát đầy vào
    chỗ đau rồi dùng bài Sinh mạch nấu ra để chiêu thuốc Bát vị
    hoàn, xa bữa ăn dùng Sâm, Kỳ, Quy, Truật, Thược, Linh,
    Bạch Quế, Giác thích, Kim ngân sắc uống xen kẽ khiến cho
    chân dương một khi đã được hồi phục thì âm hàn tự giải, khí
    huyết xung hòa tự có thể đuổi được độc, điều trị năm ba
    ngày thì chỗ lạnh rắn hóa ra nóng mềm, chỗ sưng lan nhòn
    lại cao u lên, chỗ tê dại đã thấy nhức đau, chỗ tía đã thấy đỏ
    trơn, ăn uống tiến bộ, khí huyết sinh trưởng thêm, độc ra
    ngoài sưng thành mủ, không tới hai tuần thì khỏi. Mới biết
    rằng mọi bệnh đều lấy khí huyết làm công dụng, thủy hỏa
    làm căn bản, mà sưng mủ hóa thành, bỏ khí huyết thủy hỏa
    đi thì lấy gì làm cái công dụng để thác lý hay gây mủ được.
  25. Chứng nội thương. Uống bài Bát vị bỏ Phụ tử gia
    Mạch môn, Ngũ vị, Ngưu tất.
    Chữa cháu bé của cụ Bành mới 3 tuổi, tuy mới nóng mà
    thần khí mệt nhừ, mạch sờ vào thì vô lực, da thịt trắng bợt,
    hai má hơi đỏ hồng, mình tuy nóng mà ấn lên thì bình
    thường, hơi đổ mồ hôi, ấy là bẩm thụ rất bạc nhược, ngoại
    cảm nhẹ mà nội thương nặng. Tiên sư bàn rằng: “Chỉ bổ ở
    trong, thêm nguyên khí thì tà tự nhiên lui”, nhưng nhà bệnh
    không theo, họ cho uống nửa chén nước củ hành rồi chùm
    chăn lại quả nhiên mồ hôi toát ra mãi không ngưng, tay
    chân rời rạc, mặt xanh mắt nhắm, không bú nghiến răng, đã
    thành ngoại chứng thế nguy cấp, lại đến mời thầy, thầy bảo:
    “Em bé này tiên thiên bất túc, chứng ngoại cảm ít mà nội
    thương nhiều, theo phép phải ôn bổ mà lại hãn thì dương
    phải vong cho nên tay chân rời rã bất tỉnh, mồ hôi tức là
    máu, mồ hôi và máu đã mất ở trong, âm bị hao kiệt, răng
    thuộc về thận âm, nghiến răng không thôi là thận sắp bại
    hoại, kíp phải nên bổ mạnh vào thận thủy để bổ chân
    dương, họa chăng bảo toàn được tính mạng, mới cho uống
    bài Bát vị bỏ Phụ tử gia Mạch môn, Ngũ vị, Ngưu tất, sắc ba
    đồng Sâm hòa vào mà uống, uống rồi hiệu nghiệm nhanh
    như tiếng dội. Mới thấy rằng chứng nội thương nhận là ngoại
    cảm cho uống hành đắp chăn mà suýt nữa còn làm tổn
    thương sinh mạng, huống chi là dùng thuốc phát tán khắc
    phạt hàn lương nữa ư? Đứa bé đương thuần dương còn thế,
    huống chi là người nguyên khí đã tàn lụi thì sao?”.
  26. Chứng bí đái. Uống Bát vị bội Thục địa, Mạch
    môn, Ngũ vị, tái phát lại cho uống bài Sâm, Quế.
    Chữa người cháu gái cụ họ Vương, 13 tuổi, vì lúc nhỏ bà
    vú em sợ đái dầm trên giường, thường đánh thức luôn cho
    nên vài năm sau mỗi ngày đi 7 – 8 lần, đêm đi 7 – 8 lần, liền
    có hình trạng giống như chứng lậu mà không phải chứng
    lậu, lúc ấy vừa đầu tháng hè mới đến nỗi không thông, nguy
    cấp quá, ông ngoại đứa bé cho uống Đạo xích tán để thông
    lợi, lúc đầu uống hơi đỡ, lâu rồi một giọt cũng không thông,
    sáu mạch hồng sác, sờ lâu thì vô lực, mới biết lúc mơ màng
    khiếp sợ, gắng gượng đi đái càng làm hao tổn chân âm, 5
    tạng đã khô thì tân dịch còn sinh sao được, tuy có khí hóa
    dẫn đến chỉ tổ làm thêm đầy buồn, vẫn dùng Bát vị làm
    thang gia Mạch môn, Ngũ vị, mỗi thang thêm hai lạng Thục
    địa (lấy ý nghĩa là tiết mùa thu đi xuống, móc trắng sinh ra)
    cho uống hai thang để thêm cho chất nhờn béo trong ngũ
    tạng, để làm manh mối cho tiểu tiện ra, lại còn nhai bã, móc
    cổ cho mửa, khiến cho thượng khiếu mở ra thì hạ khiếu
    thông suốt, quả nhiên uống vài lần thì khỏi. Sau vì mất sự
    điều dưỡng, chính vì mùa nắng dữ, chứng ấy lại phát ra, ông
    ngoại nó lại cứ theo phương pháp cũ mà cho uống, lúc đầu
    chỉ có chỗ bụng dưới đầy tức muốn tuyệt. Mửa được một lần
    thì tức ngực khó chịu. Thầy nói: “Khi đau về tháng đầu hè
    khí chưa thương tổn lắm, huống chi bệnh mới phát thì thần
    khí chưa suy, cho nên đau là vì chất nhờn béo ở ngũ tạng
    không đủ, thêm các vị thuốc béo nhờn đủ giúp sức rồi”. Nay
    đang buổi nắng, khí bị thương tổn quá, huống chi ngày đêm
    buồn đầy, bỏ cả ăn ngủ, mồ hôi nhiều, tim đập mạnh, tinh
    lực đã mệt quá tuy có thuốc mát để bổ thêm thủy nhưng
    không có trung khí để vận hành thì cũng chẳng giúp ích gì,
    vả lại sáu mạch nay lại càng hồng đại mà trống rỗng hơn là
    ở trong đã khô quá, uống vài thang trọc âm để bổ căn bản
    cho chất béo nhờn là nhất thiết không bớt được, còn phải kế
    tiếp giúp trung khí để vận động thì khí ở trung tiêu đi lên đi
    xuống được, thang thuốc mới có thể vận hành, mới uống
    liên tiếp hai thang, quả nhiên trên dưới đều đầy tức thêm,
    mới cho Sâm một lạng, Phụ 3 đồng, sắc đặc còn một chén
    cho uống âm ấm, giây lát thì từ ngực đến bụng dưới có tiếng
    rong róc, liền đi đái vài lần là khỏi. Đáng tin rằng làm thuốc
    chớ nên nệ phương, phải nhận chứng mà lập phương cho
    đúng.
  27. Bệnh lâm: Uống Bát vị hợp Nhị diệu thang. Lại
    uống Bổ trung ích khí bỏ Trần bì, Sài hồ, gia Hoàng cầm,
    Phòng phong
    Chữa một người trẻ tuổi lao tâm, sắc dục quá độ, bị
    chứng tiểu tiện nhỏ giọt, đầy trướng quá mà nhức, vả lại hai
    đường đại tiểu tiện đau giằng với nhau, mạch hai bộ thốn
    trầm vi, hữu quan hơi hoạt sắc, hai mạch xích huyền, ấy là
    khí tâm phế không đủ, cho nên một đằng thì không sơ tiết
    (can), một đằng thì không đóng kín được (thận), trung khí đã
    hư thì khí thanh dương không đi lên được mà uất trệ lại ở
    trung cung, nung nấu làm thấp nhiệt, thấm vào bàng quang,
    nhân thế mới thành bệnh lâm, hai đường tiện đau giằng như
    chứng hà tiết ra, buổi sáng mới cho uống bài Bát vị hợp Nhị
    diệu thang, khiến cho sự nóng và lạnh hướng đạo lẫn nhau,
    trừ thấp nhiệt đi để cho nguồn được trong, giữa trưa xa bữa
    ăn, dùng bài Bổ trung ích khí thang, nhưng tâm khí rất hư
    hao sao còn dám tả khí nữa, mới bỏ Trần bì. Can khí đã yếu
    sao còn dám tả can nữa, mới bỏ Sài hồ. Còn bã thì đến chiều
    sắc uống, móc họng cho mửa ra trọc khí ủng tắc xuống dưới
    tất phải có vị thuốc thấm nhạt, mới gia Phục linh, nhưng sợ
    bỏ Sài thì Thăng ma một mình không đủ sức nâng lên, mới
    gia Phòng phong non sao rượu để giúp sức, Phòng phong
    sao rượu là để bỏ tính tân tán mà thêm sức bốc lên của nó,
    còn bã sắc uống móc cổ cho mửa ra là vì thấp với nhiệt với
    uất một khi được thăng phát lên thì tự nhiên tan, phương chi
    thượng khiếu mà thông thì hạ khiếu tự lợi, quả nhiên uống
    rồi rất hay.
    Bát vị hợp Nhị diệu thang
    Thục địa 8 đồng Sơn thù 2
    đồng
    Mẫu đơn 2 đồng Trạch tả 1,5
    đồng
    Sơn dược 2 đồng Phụ tử 1
    đồng
    Phục linh 2 đồng Liên tử 10
    hạt
    Bấc đèn 10 cọng
    Hoàng bá (sao muối rượu cho biến sắc xám lên)
    8 phân
    Đổ nước sắc lấy 8 phân, uống vào lúc đói.
    Gia giảm Bổ trung thang
    Sâm 3 đồng Kỳ 2 đồng
    Táo nhân 2 đồng Bạch truật 1,5 đồng
    Phục linh 2 đồng Quy thân 1,5 đồng
    Cam thảo 8 phân Thăng ma sao rượu mật
    4 phân
    Phòng phong sao rượu 3 phân
    Thêm gừng táo, sắc uống.
  28. Chứng bán thân bất toại (thiên khô). Uống Bát vị
    hoàn gia Ngũ vị, Ngưu tất.
    Chữa cho bà họ Vũ làm nghề tiếp viên, tính rất đa tình
    đến nỗi tâm thần trung khí ngày càng hư, vì thế mà mắc
    phải bệnh này, cánh tay phải sưng thũng, hoặc tê dại hoặc
    đau, hai chân đứng khó khăn. Phải biết, thổ hư nên không
    thể kiện vận được, tân dịch sẽ ngưng trệ mà thành đờm, vả
    lại thủy không thể về được nguồn thì âm càng hao, có thể
    tiêu đi được đâu? Thế mà thầy thuốc bảo là đờm, là hỏa, là
    phong, thầy nào cũng cho uống thuốc thanh lương, công
    phạt phát tán, mà bà ta cứ thường đem mình thử thuốc,
    bỗng dưng một hôm bị hôn mê bất tỉnh, đờm suyễn kéo lên,
    mồ hôi toát ra, 6 mạch trầm vi, đó là trung khí hư đã lâu,
    không bổ cho mạnh mà tự ý làm hao mòn quá, một khi nước
    cạn thì đá lòi ra, chứng đại hư hiện ra tất cả, nên cứu vãn
    gấp, vẫn dùng Nhân sâm 6 lạng, Bạch truật 4 lạng sao vàng,
    Sinh Phụ tử bỏ vỏ nướng gừng, sắc lấy một chén đổ cho
    uống rồi mồ hôi thu dần, mạch lên dần, suyễn yên, thần tỉnh
    táo, phong đờm vì hỏa đưa lên thì dùng bài Bát vị gia Ngũ
    vị, Ngưu tất dẫn xuống mà thu nạp lại, kế tiếp cho uống bài
    Quy tỳ bỏ Lộc nhung gia Quế, Ngũ vị để điều bổ, mỗi sáng
    sớm lại uống Thập bổ hoàn, từ đó không những đi đứng nhẹ
    nhàng, lại sinh được một người con rất khỏe, ấy là sức của
    Quế Phụ trong hai năm, ông cụ Vũ mới giác ngộ được chí lý.
  29. Chứng sán thống. Uống Lục vị thang gia Quất
    hạch, Phụ tử, Hoàng bá.
    Chữa cho ông họ Vương, đau sán thống rất nguy, mạch
    ba bộ bên tả huyền hồng mà sắc, ấy là âm rất không đủ, bộ
    quan bộ xích bên hữu hồng đại, sờ mạch thì hữu lực, ấy là vì
    ăn đồ ngon béo, rượu chè, sắc dục quá độ, chân thủy bị tiêu
    hao, mặc cho thấp nhiệt chảy xuống, can mộc không được
    vinh dưỡng, gân không được vinh nhuận, thấp nhiệt công
    kích ở trong, âm hàn ngăn cản ở ngoài mới kích thích hỏa
    uất át của mộc, cho nên làm thành đờm thành trướng,
    không thể chịu được, vẫn dùng bài Lục vị gia Thục địa 2
    lạng, Sơn thù 3 đồng để tư nhuận can thận, Mẫu đơn 2
    đồng, Phục linh 3 đồng, Trạch tả 1,5 đồng để tiêu thấm thấp
    nhiệt đi, gia Quất hạch 3 đồng để sơ thông can uất, Chế phụ
    tử 1,5 đồng, Hoàng bá sao sém 1,2 đồng khiến cho thuốc
    hàn làm hướng đạo cho thuốc nhiệt, thuốc nhiệt làm hướng
    đạo cho thuốc hàn đo đó mà ngoại hàn tan đi, ngoại nhiệt
    trừ đi, chân thủy sinh, lôi hỏa tắt mà chứng sưng nhức tự
    khỏi.
  30. Chứng đau trong xương (Cốt thống). Trước uống
    Dưỡng huyết khu phong thang, sau dùng bài Sinh mạch làm
    thang tống Bát vị hoàn gia Ngũ vị, Ngưu tất, Đỗ trọng, Lộc
    giao.
    Chữa cho ông Thành Chương, bỗng nhiên đốt xương
    chân tay bên trái đau nhức dần dần đến thế đau như dao
    cắt, ngày đêm rên la, kế đó đau chạy sang chân tay bên
    phải đều đau khắp, thầy thuốc cho uống thuốc khu phong
    hoạt lạc đều không công hiệu, lại thấy miệng khô họng ráo
    (nhầm cho là hỏa bốc nên dùng thuốc mát) thần khí uể oải,
    6 mạch hồng huyền. Phải biết, trong gân xương mà được sự
    tư dưỡng đầy đủ thì huyết tự dinh dưỡng trong mạch, khí tự
    hộ vệ ngoài mạch, dẫu có tà mạnh cũng đâu có thể vào sâu
    được, nay chất mỡ dầu không đủ, gân xương không được
    vinh dưỡng, khí huyết hư lâu, vinh vệ mất chức năng, há
    không nghĩ đến mắt sở dĩ trông được, tay sở dĩ cầm nắm
    được, chân bước đi được, đều là nhờ có huyết, cho nên phần
    trên phần dưới chỗ nhỏ chỗ to trong nhân thể cái gì cũng
    nhờ huyết mới làm tròn nhiệm vụ, nay không có huyết ấy
    nuôi thì trăm việc đều bỏ bể, mặc cho hư hỏa xông đốt,
    càng nhức mà hỏa càng lên thì đau càng dữ, rên la thì tổn
    thương khí, nhịn đau thì tổn thương huyết, nhất định sẽ đến
    tình trạng tê dại, chân tay bại liệt, tê liệt nửa người rồi mới
    thôi. Chỉ nên dùng mạnh Thục, Quy, Thược làm quân, Ngân
    hoa, Tần giao làm thuốc nhuận trong loại thuốc phong để
    làm thần, mượn thế phong để dẫn sức thuốc suốt tới gân
    xương. Lại dùng Ngưu tất, Đỗ trọng, Tục đoạn làm tá sứ để
    điều hòa chỗ gân xương đang đau, lại dùng Quế chi, Tùng
    tiết để dẫn đưa tính thuốc đi ngang ra hai tay, uống rồi nhức
    đau hơi đỡ mà tinh thần ngày càng mỏi mệt, gia Sâm Truật
    để giữ vững trung tiêu bồi bổ nguyên khí, điều trị nửa tháng
    thì các chứng đều lành. Lại bảo cứ mỗi sáng dùng thang
    Sinh mạch để chiêu Bát vị hoàn gia Ngưu tất, Ngũ vị, Đỗ
    trọng, Lộc giao, trưa vẫn uống thuốc sắc. Được hai tháng
    sau thì đi đứng như thường. Mới biết rằng khí huyết điều
    hòa, thông đạt được khắp nơi khoan khoái đều là nhờ một
    điểm nguyên dương ấy ở chỗ đan điền vận hóa mới được
    vậy. Cho nên hễ bệnh cảm hàn, trúng hàn mà vào thẳng
    được phần lý là vì phần lý không có hỏa, hỏa tức là nguyên
    dương. Phương thư nói: “Phải nên ôn bổ ngay, không thể để
    chậm tý nào, vì hỏa còn ít ỏi mà không bổ gấp để giữ lấy thì
    sẽ bị âm hàn dập tắt rất chóng”, cớ sao người đời lại lấy hai
    chữ phong hàn gọi luôn một tiếng, cho là chứng hữu dư. Ban
    đầu dùng thuốc tân ôn để phát tán rồi tiếp dùng cách sơ lợi
    để mở toang, cuối cùng thuốc hàn lương để thanh phần lý,
    không kể dương phong hay âm hàn, không xét tà chính thực
    hư, không tường hỏa chân hay giả, tiếng là vệ sinh mà kỳ
    thực là thương sinh (hại sinh mạng). Cổ phương dùng Toàn
    yết, Xạ hương, Cương tàm đều là loại thuốc mạnh dữ làm
    thuốc đối chứng, tất phải là người khỏe mạnh, tà thực, hoặc
    có thể sống tạm, nếu không phân hư thực mà cứ cho uống
    bừa, bệnh nhẹ thì làm tổn thọ, bệnh nặng thì làm vong
    mạng. Phương thư nói: “Trị phong trước phải trị huyết, huyết
    vận hành thì phong tự hết”. Lại nói: “Khu phong chớ làm
    quá táo”, cho nên trước tiên là trọng dụng huyết dược rồi
    tìm vị nhuận ở trong loại phong dược làm tá.
  31. Chứng lại sang (cùi hủi). Uống Bát vị gia Ngưu
    tất, Ngũ vị.
    Chữa người cháu thứ hai vì mẹ nó bị chứng âm hư phát
    nhiệt lâu ngày khi sinh được hơn trăm ngày thì khắp mình lở
    láy, đau đớn buồn bực, khóc không lúc nào nín, mới dùng
    một đại tễ: Sinh địa, Đương quy, Đan bì, Xích thược, Tỳ giải,
    Thủ ô, Thổ phục linh, Mộc thông, Ngân hoa, Liên kiều, Thảo
    tiết, Bối mẫu, Miết giáp, Hồ ma tử, ngày đêm cho người mẹ
    uống, vài mươi thang thì thấp nhiệt đưa dồn xuống, hai chân
    chảy nước trong đầm đìa, móng chân đều rụng, ai ở gần đều
    bị truyền nhiễm, ấy là thai khí tiên thiên đã ra hết. Lại ở sau
    tai kết lại một nhọt độc to, đó là âm thiếu mà hỏa vô căn
    thừa hư ngưng tụ ở đấy. Vẫn dùng Bát vị thang gia Ngưu tất,
    Ngũ vị uống vài thang rồi thấy chỗ sưng vỡ mủ mà rút khỏi.
    Sau khi khỏi, khí huyết tân dịch suy khô, sang đóng vảy khô
    khốc, cái khỏi cái mọc ra khó lòng giữ cho khỏi công vào
    trong. Vẫn dùng thịt dê 4 lạng (tinh không đủ dùng vị mà
    bổ) nấu nước cho Sinh kỳ vào 4 lạng, Quy thân, Ngân hoa
    đều 3 đồng, Thăng ma sao mật, rượi 4 đồng, gừng sống 3
    nhát, Táo 2 quả sắc uống, mười thang thì lành hẳn, mới biết
    khí huyết hư mà biến hiện ra các chứng không thể gọi tên
    và hình dung được, cho nên người chữa mà nhận kỹ được
    chân tình hư thực của khí huyết, công dụng biến hóa của âm
    dương, huyền vi chân giả của mạch khí, thì tuy bệnh trạng
    biến hiện nhiều đường, tóm lại không ngoài âm dương, khí
    huyết hư thực vì nó tổng quát tất cả. Tuy các chứng sang,
    các chứng sưng thũng, có khi ở tạng hoặc có khi ở phủ,
    chẳng chứng nào là không do âm dương khí huyết ngưng trệ
    mà sinh ra, khí huyết có thừa thời sưng đỏ nổi cao mà làm
    dương độc, khí huyết không đủ thời tẹt thấp, bằng lõm mà
    làm âm độc (Đơn Khê nói: “Âm trệ ở phần dương, dương trệ
    ở phần âm, trăm bệnh đều do đó, không những chỉ ung nhọt
    mà thôi, gọi là độc là khí huyết không hòa”). Cho nên sưng
    to, độc lớn, phát ở xương tủy, kinh lạc, tức phải tìm ngay ở
    tiên thiên thủy hỏa, chân âm chân dương là được, đến như
    các chứng sang lở, mụn nhỏ lại phải tìm ngay ở hậu thiên
    khí huyết mới được. Sao mà thầy thuốc gần đây hễ mỗi khi
    gặp chứng sang thũng liền cho là độc hữu dư, dùng thuốc
    hàn lương thanh giải nhẹ thì còn khá, nặng thì khí huyết lại
    càng thương tổn, phần nhiều thường công vào trong không
    cứu chữa được.
  32. Chứng thổ đờm. Dùng Thập bổ hoàn uống xen với
    Quy tỳ Dưỡng vinh thang.
    Chữa một người thanh niên tráng kiện vì làm quan bất
    đắc ý, uất ức thành đờm, như trong Nội kinh nói: “Thường
    sang sau hèn gọi là thoát dinh”, đến nỗi khí huyết ngày một
    hao mòn, tinh thần không phát dương ra ngoài, sáu mạch
    huyền tế mà sắc, hoặc hơi sác. Hễ ăn uống vào dạ dày thì
    hóa hết thành đờm tất phải ho mửa ra hết đờm dãi mới yên
    được, không hết không thôi, vì thế tân dịch hao ở trong, cơ
    nhục hao dần, ghét lạnh, nhác ăn. Bởi vì vệ khí là để sung
    dưỡng cho lông da, ấm áp cho cơ nhục, chủ việc mở đóng và
    nuôi béo tấu lý để hộ vệ cho phần cơ biểu, còn dinh khí thì
    thường đi theo vệ khí, cho nên làm nhuận bì phu nuôi mạch
    lạc, nay trung khí đã yếu và uất thì kết tụ mà không tuyên
    thông còn làm cho đầy tràn và mở đóng sao được. Khí đã
    không hộ vệ được ở phần biểu thì sợ lạnh, huyết không có
    khí vận hành ra biểu thì cơ nhục khô, trung khí đã hư, tỳ mất
    sự kiện vận, đồ ăn uống đã bị chưng uất mà làm thành đờm
    thì không thể lại thành tân dịch mà làm huyết được, các lỗ
    nhỏ của trường vị cũng bít kín mà không thông thì sao có
    lưu hành tân dịch ra phần ngoài da thịt được. Và tân dịch đã
    ngưng trệ mà thành đờm thì đờm càng nhiều mà tân dịch
    phải kiệt, mới dùng Nhân sâm (bổ nguyên khí, củng cố trung
    tiêu, làm quân), Hoàng kỳ (củng cố phần biểu, thông đạt
    trong ngoài làm thần), Đương quy (hòa huyết nuôi khí),
    Bạch truật (trợ tỳ táo thấp), Mạch môn (bảo hộ khí trong
    phế), Ngũ vị (thu liễm kim khí đã hao tán), Chích thảo (hòa
    dược tính kiêm bổ tỳ), các vị trên đều dùng làm tá. Quế chi
    (cay ngọt có thể điều vinh vệ mà ấm da thấu ra biểu), Ma
    hoàng (nhẹ, nổi, sức mạnh dắt dẫn các vị khác đi suốt khắp
    lông da, xua đuổi đờm ẩn núp ngừng tụ ngầm kín, hoặc cản
    chất tân dịch làm thành khí dương hòa đều làm sứ, nhưng sợ
    Ma hoàng, Quế chi cay nóng làm hao dịch âm, lại cho thêm
    Bạch thược (hòa bình can khí để ức chế tính nóng tức là bài
    Ma Quế của Đông Viên chữa ngoại cảm hàn tà, nội thương vì
    uẩn nhiệt mà thổ ra huyết. Tôi gia thêm vị Bạch truật là vì
    tính nó cương mà chóng, tất có thể giữ vững được trung tiêu
    mà không bị thứ gì làm rối loạn. Trương Tử dùng Sinh
    khương, Táo, Giao là vì nó có thể giúp tỳ mà sinh tân dịch lại
    giúp thần minh mà khí thanh dương được phấn chấn) gia
    Sinh khương, Giao, Táo sắc uống hai thang, sau mạch khí
    dần dần đầy đủ mà có thần, ho mửa ra đờm dãi rồi yên, vẫn
    tiếp tục cho uống Thập bổ hoàn lúc đói bụng để bổ thận, lúc
    trưa thì uống Quy tỳ dưỡng vinh gia giảm để điều dưỡng tâm
    tỳ khí huyết rồi mới yên lành.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc