BÁN HẠ
“Bán hạ ma tân, ôn liệt hữu độc Dương minh hàn thấp, đàm nghịch hữu công”
BỆT DANH
Phủ Điền, Thủy Phiếm, Địa Văn, Thị Cô, Hòa Cô, Trỉ Mao Ấp.
HÌNH LOẠI
Là củ cây bán hạ, có bông màu tím thúi, sanh giữa mùa Hạ, tàn ở cuối mùa Thu. Củ có nhiều chất bột ngứa, màu trắng, dùng làm thuốc.
Trang 32
TÁNH VỊ
Vị cay ngứa, tánh ấm , có độc. Thể hượt, tánh táo.
CÔNG DỤNG
Chuyên đi vào Tỳ Vị, Mật và Tim, trị đàm thấp, ói nghịch, thần kinh cuống Vị bóp ngược.
CHỦ TRỊ
Xét kỹ độc của nó ở chỗ vị ngứa. Là một vị thuốc quan trọng để trừ thấp hóa đàm, cầm ụa ói, khai uất, phát biểu, hòa Vị, kiện Tỳ, tiêu tích, hóa đàm nhớt, thuận khí trừ ho, trị đau ở vùng cuống bao tử, bĩ kết, thủy ẩm, đàm khí.
Đi chung với Sanh cương trị đàm nghịch ở cuống Vị rất hay. Người bị thấp đàm nhiều uống nó rất dễ ngủ. Nó còn có đặc tính trị được bệnh Bạch Hầu Phong (Dyptérie).
CẤM KỴ
Tất cả huyết chứng âm hư, huyết ít, tân dịch không đủ đều kỵ. Đàn bà có thai kỵ dùng, nếu có Sanh Cương tá thì không hại. Khắc với 0 Đầu, kỵ với đường Mạch
Nha, huyết Dê
■ Mạch tay phải lớn nghịch, hượt dùng nó rất hayyCpk^
DỤNG LƯỢNG
Từ 1 đến 3 chỉ
PHỤ LỤC
Dùng nó phải biết tính chất nên dùng sống hay dùng chín thế nào mói khỏi bị hại. Thông thường kỵ dùng chung với Phụ Tử, nhưng khi có bệnh thì không có kỵ, dùng sống trong trường hợp để gây tê ngoài da, còn uống để trị bệnh ác trở nặng (ốm nghén bị ói).

Discover more from Y Đạo Thời Đại

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading