Đó là loại thuốc phần khí nhưng lại phải xem hình vị, để chín chắn phân biệt, Bạc Hà, Tân Di,
đồng một vị cay, khí đều thanh nhẹ mà hình lại khác. Bạc Hà là loại cỏ nhỏ, giống mọc chùm không chỉ
một cây, nên có khả năng tan ra bốn phía. Lại hay bốc lên, tan ra trên đỉnh đầu, vì khí nó nhẹ bay. Tân
Di (búp cây Đa Lông) sanh ở chót cành cây, búp hoa nhọn vút thẳng lên cao, vị cay, khí nhẹ, nên
chuyên chủ đạt lên trên, có thể giải tán phong hàn ở óc và mũi. Ma Hoàng tuy từng cành thẳng lên,
nhưng cũng là thứ cỏ mọc chùm cùng với Bạc Hà mọc chùm nghĩa gần giống, nên có thể thăng lên trên
lại có thể tan ra ngoài. Bạc Hà được khí nhẹ nổi của trời, nhưng còn vị cay là gồm được vị của đất nên
gồm vào phần huyết. Còn như Ma Hoàng thì cộng nó bọng, đi thẳng lên trên. Vả lại không có vị đặc
biệt, thuần được khí nhẹ bốc của trời nên chuyên chủ phần khí từ âm ra dương, đạt suốt da lông khắp
châu thân trên dưới. Quế Chi cùng với Ma Hoàng đồng là vật thăng tán, nhưng khí vị đều có chỗ khác.
Cành có tánh phát triển ra bốn phía, khí cũng nhẹ bốc nhưng Quế còn kèm vị cay là được vị của đất
nên kèm vào phần huyết, có thể phát tán phong hàn ở trong huyết mạch cơ nhục. Hãy xem thang Ma
Hoàng của Trọng Cảnh dùng để mở da lông, thang Quế Chi dùng để giải bắp thịt, là biết phân biệt
được phần huyết phần khí. Sanh Cương khí nó thăng tán mà lại có thể giáng khí cầm ói, là vì vị nó
mạnh hơn, và là củ ở trong đất, là bẩm vị của địa hỏa mà qui kết ở củ, nên có thể giáng khí cầm ói. Tuy
có thể thăng tán nhưng so với tánh thuần thăng của Ma Hoàng khác nhau, nên thang Tiểu Sài Hồ và
thang Nhị Trần đều dùng để cầm ói. Rễ của Thông Bạch cũng sanh trong đất, nhưng lá bọng, cọng
thẳng, khí mạnh hơn vị, rút khí từ dưới đất để suốt lên đến ngọn, nên công chuyên thăng tán, hay thông
khiếu của Phổi. Thang Bạch Thông của Trọng Cảnh dùng để thông khí dương lên tận đỉnh đầu, thì cũng
dùng khí tận dưới lòng đất để suốt lên lá đọt, là có thể thông khí dương của Thái Dương trong nước
mà giao lên đỉnh đầu vậy.
Cương Hượt, Độc Hượt, Cát Căn, củ đều sâu dài, có thể rút hơi nước từ trong đất đưa suốt lên đọt lá;
mầm dây lại rất dài, tượng cho kinh Thái Dương trong thân người, từ trong nước Bàng Quang đưa khí
dương suốt kinh mạch để bảo vệ châu thân. Nên có hai loại ấy đều vào kinh Thái Dương, nhưng
Cương Độc Hượt khí vị cay mạnh nên phát tán, nhưng hay làm tổn thương đến huyết. Còn Cát Căn khí
vị êm nhẹ hơn, nên tánh phát tán nhẹ không làm tổn thương đến huyết, rễ rất sâu, có thể dẫn hơi nước
suốt lên đọt lá nên còn có khả năng đưa lên tân dịch đi lên vậy. Sài Hồ, Bạch Đầu Ông cũng đều loại
một cộng thẳng lên, hoa đều thơm nhẹ, nên có thể thăng tán uất kết, mà Bạch Đầu Ông sở dĩ trị được
chứng rặn của bệnh Kiết lỵ cũng nhờ tánh thăng tán uất kết vậy. Còn Sài Hồ trị phía trước lồng ngực bị
nghịch đầy, khí Thái Dương mắc kẹt ở lòng ngực, không suốt ra ngoài được gây nên chứng lồng ngực
đầy, Sài Hồ có thể đạt suốt được. Đây cũng là nghĩa thăng tán uất kết mà thôi, nhưng hai vị khác nhau
là vị Bạch Đầu Ông không gió lắc lay, có gió chẳng động, màu trắng có lông. Phàm loại có lông đều
thọ bẩm được khí phong, lại thu thập ở mùa Thu, được khí Kim Mộc giao hội nên có thể ngừng phong
từ phế Kim để đạt khí phong Mộc, làm cho Mộc không lấn Thổ nữa vậy. Nên công dụng ở nâng đỡ
chứng mắc rặn để chữa trị Kiết lỵ vậy. Còn Sài Hồ màu xanh, từng cọng thẳng lên, sanh ở mùa Xuân,
thu thập ở mùa Hè, được khí vị của Thủy Mộc từ thượng trung tiêu, để đạt khí Mộc Hỏa, làm cho đừng
lấn phế Kim nữa. Nên có công năng thấu suốt uất kết phía trước lồng ngực. Vả chăng Trọng Cảnh dùng
Sài Hồ để trị chứng Thiếu Dương, nghĩa rất tinh vi. Thiếu Dương là khí dương trong nước, phát lên
theo Tam Tiêu, để đi ra tấu lý. Mắc liền vào buồng Mật để hóa ăn uống. Màng lưới Tam Tiêu phải
được thông sướng, khí Mộc Hỏa ở Gan Mật được thanh hòa mà khí dương trong nước bèn theo đó từ
trong suốt ra ngoài. Sài Hồ trong cọng của nó bọng xốp, có màu trắng thông khí, tượng màn lưới Tam
Tiêu trong thân người. Màng lưới chằng chịt, nối liền da thớ gân xương nên gọi là tấu lý. Thiếu Dương
Mộc Hỏa mắc kẹt ở tấu lý không thông thì làm nóng lạnh, Sài Hồ có thể đạt được vì trong cọng bọng
xốp, tượng tấu lý có thể đạt khí dương. Lại vị đắng mát, có thể thanh Hỏa ở Tam Tiêu. Thế thì Sài Hồ
trị Mật là dùng cái đắng, trị Tam Tiêu là dùng tướng trong cọng bọng xốp thẳng lên. Trị Thái Dương là
thông đường Tam Tiêu để đạt khí, đó là mượn trị chớ không phải là chánh trị. Lại nữa, Sài Hồ phải
dùng một thứ cọng thẳng lên, cọng màu xanh, lá mọc bốn phía như lá tre mà nhuyễn, nở hoa vàng mới
đúng là Sài Hồ thật, là thứ Trọng Cảnh hay dùng. Gần đây có một thứ rễ cỏ, vị cay, tánh ấm, phát biểu,
tuyệt không phải bổn tánh của Sài Hồ, quyết không thể dùng. Ở Tứ Xuyên, huyện Tử Đồng có sản xuất
Sài Hồ giá rất rẻ, ít người thông dụng, chỉ vì sách thuốc bày ra những thứ nào nhuyễn Sài Hồ, hồng Sài
Hồ, ngân Sài Hồ, dùng ngụy loạn chơn, mất dược tánh của Trọng Cảnh thật là đáng tiếc! Thăng Ma vị
ngọt, hay thăng khí của Tỳ Vị, nhưng lý do hay thăng là bởi trong củ rễ có những lỗ nhỏ dẫn hơi nước
suốt lên đọt, nên tánh chủ thăng nhưng không có tánh tan ra bốn phía, là vị rễ chuyên chủ thăng, không
như Sài Hồ còn có cành lá nên có tánh phát tán. Tử Tô hơi giống Kinh Giới, màu hồng có thể phát tán
phần huyết, cành lá tủa oằn nên tánh tán nhiều, tánh thăng ít. Bạch Chỉ cay thơm, màu trắng vào Phổi và
kinh Dương Minh, tánh củ lại chủ về thăng nên có thể thăng tán phong hàn ở Dương Minh và Phổi. Cứ
xem Độc Hượt màu đen, vào hệ thống Thái Dương Thiếu Âm. Bạch Chỉ màu trắng vào Thái Âm
Dương Minh, như thế lại là Kim Thủy khác chất, tượng nào theo loại nấy. Đó là cơ tánh đều thăng tán
nhưng chủ trị khác nhau. Ngân Hoa, Liên Kiều, Cam Túc, tánh mát, chất nhẹ nên có thể thăng khí thanh
để giải nóng ở thượng tiêu đầu mắt. Nhưng không có vị cay khí tán nên không chủ về tán. Thanh Cao,
Thương Nhĩ (Ké đầu ngựa) đều chẳng cay tán mà có thể chủ tán thì lại bởi theo hình khí mà luận.
Thanh Cao cành lá tứ tán nhưng vị đắng nên tán Hỏa. Thương Nhĩ chất nhẹ có gai thì hay tán phong.
Phàm loại có gai có sừng có lông đều cảm khí phong nên chỉ tán phong. Mạn Kinh Tử khí mạnh, chất
cũng nhẹ nên chủ tán phong ở đầu mắt. Lô Cam Thạch, Hải Thạch, chất đều nhẹ nổi nhưng xét kỹ đều
thuộc thể đá, là nổi trong chìm nên không thể đạt biểu lên đầu, mà chỉ có thể giải tán đàm Hỏa kết ở
Phế Vị. Phân biệt thuốc nổi chìm là để trị bệnh nổi chìm thì nghĩa biểu lý thăng giáng đều được minh
bạch.
Tham luận: Mục đích của đoạn này để minh định rõ lý tại sao đồng là thuốc nhẹ, ảnh hưởng vào phần
trên phần ngoài, mà không thứ nào giống thứ nào. Theo đó luận giả biện bạch cho thấy đồng là thuốc
nhẹ, nhưng vẫn có nhẹ nặng khác nhau, và còn phải tùy thuộc vào hình sắc khí vị, tánh chất, tánh tình
nữa. Nhưng đây chỉ mới liệt kê khoáng và thực, mặc dù chưa nói đến động vật cũng không ngoài thông
lệ này. Vì muốn cho người học được lợi ích chính chắn nên theo đây có thể bàn thêm vài điều chi tiết.
Ma Hoàng thuộc loại cỏ nhỏ, mọc chùm từng cọng thẳng lên như cành tre không có lá, thân cây có từng
đốt, ngoài da láng, trong ruột có màng xốp xốp như trong ruột cây tre non, mỗi đốt có màu tím tím.
Phần thân nếu nếm vào chẳng thấy có vị gì đặc biệt, còn phần đốt và rễ thì rõ ràng có vị chát. Cho nên
rễ và đốt không phải là thuốc phát hạn mà là thuốc cầm mồ hôi. Nhưng nếu phân tích hẳn ra mà dùng,
được cái lợi phát hạn, nhưng thỉnh thoảng có thể xảy ra thái quá. Nếu dùng cả lóng và đốt, tuy không
thật mạnh nhưng rất dễ giữ thế quân bình, nên thị trường chỉ bỏ rễ.
Mộc Tặc cũng rất giống Ma Hoàng nhưng cọng to gấp 3-4 lần, giữa không màng trắng, thân cây rất
mỏng, bọng rỗng như một thứ trúc thật mỏng, chỉ mỗi đốt có ngăn, ngoài da lại rất nhám. Xưa người ta
thường dùng để đánh bóng gỗ, xương, sừng, ngà. Cho nên uống vào cũng rất dễ đổ mồ hôi, nhưng là trị
phong chớ không phải trị hàn, nên không thể thế Ma Hoàng được. Thế là chỉ khác nhau ở lớn nhỏ,
nhám với không nhám, bọng xốp với rỗng, mà Ma Hoàng vào Thái Dương Thiếu âm, còn Mộc Tặc thì
vào Khuyết âm Thiếu Dương, không thể không xét kỹ.
Nếu đem Cương Hượt, Độc Hượt mà so sánh với Cát Căn, tuy đồng là củ rễ, nhưng Cương – Độc
Hượt là cây, còn Cát Căn thuộc loại dây, mà là thứ dây bò dài nhất, củ lại ăn xuống rất sâu đi rất xa,
chớ không đứng thẳng. Cương – Độc Huợt không có bột, lại mang thêm vị cay nồng, màu sạm tối. Còn
Cát Căn không những có bột rất nhiều, vị lại ngọt thanh. Cương – Độc Huợt tuy cũng thuộc loài có lông
như Cát Căn, nhưng là cây khi có gió ít không lay, không gió tự chuyển. Còn Cát Căn thì không. Vì
thống họp những điều kiện mà Cương – Độc Huợt tính lệch về dương, trị phong, còn Cát Căn lệch về
âm mà trị nhiệt. Đó là chỗ khác. Ở Việt Nam có hai thứ cây mang tính chất giống như Độc Huợt là cây
Vòi Voi, và cây rau muống biển. Nhưng cây Vòi Voi thì tánh chất cả cây lẫn củ rễ đều giống, còn cây
rau muống biển chỉ giống ở phần công dụng của củ mà thôi!
Nói đến vị Sài Hồ, luận giả có nhắc đến một thứ cỏ người ta lấy dùng thay thế. Theo luận giả không
phải hoàn toàn giống Bắc Sài Hồ. Ở Việt Nam này cũng thế, không biết có phải giống đó hay không,
nhưng đây tên dân gian là cây cỏ ruột gà, lá tựa lá rau răm, nhưng bề ngang bầu hơn, mỏng hơn, thuộc
loại cỏ bò, phần rễ ăn bàng dưới đất, phần cành trải trên mặt đất. Các đọt cất lên khỏi mặt đất. Tại gốc
là chỗ thắt lại. Toàn thân có lõi cứng, có lớp thịt bao bọc. Khi tươi nếm vào rất ngứa, khi khô nghiền
thành bột bay vào lỗ mũi rất dễ hắt hơi như Nha Tạo. Khi lớp bột bị tán nhuyễn còn lại xương cứng là
phần vô vị. Người ta lấy từ rễ lên khỏi mặt đất 2-3 phân tây, rửa sạch phơi khô bán gọi là Nam Sài
Hồ. Vì hội đủ những yếu tố kể trên, nên uống vào có công năng thông cách, khai quan khiếu. Do đó có
tác dụng khai thông Tam Tiêu đạt tấu lý, nhưng thiên trọng kích thích nặng nề của vị cay ngứa, hơn là
nhẹ nhàng của khí thanh dương. Nếu dùng làm một vị thuốc trong Thiếu Dương để giải phong hàn thấp
thì được, để thay thế hoàn toàn cho Bắc Sài Hồ thì không nên.
Kết lại, muốn tường tận tánh từng vị thuốc không chỉ tin theo sách, thì cần phải nghiên cứu tận cội
nguồn lịch lãm thiên nhiên, nắm vững nguyên lý và phương pháp cứu xét, tiếp xúc nhiều trên thị trường
thuốc sống, lấy điềm đạm hư vô làm nền tảng, kinh nghiệm trên bệnh tật, thì mới có một kết quả hiểu
biết tương đương.
Bạc Hà, Tân Di, Ma Hoàng, Quế Chi, Sanh Cương, Thông Bạch, Cương Hượt, Độc Hượt, CátCăn, Sài Hồ, Bạch Đầu Ông, Thăng Ma, Tử Tô, Kinh Giới, Bạch Chỉ, Lô Cam Thạch, Hải Thạch, CúcHoa, Liên Kiều, Kim Ngân Hoa, Thương Nhỉ Tử, Thanh Cao Thảo, Mạn Kinh Tử, đều là những vậtbốc nổi nhưng công dụng đều khác là tại sao?
Written by
