Âm Dương – Ngũ hành – Bát Quái – Can chi

ÂM DƯƠNG (2 điều)
Trong một năm thì mùa xuân, mùa hạ là dương, mùa thu,
mùa đông là âm; trong một tháng thì từ ngày mùng 1 đến ngày
rằm là dương, từ ngày 16 đến hết tháng thuộc âm. (Lấy ngày
mùng 1 và ngày rằm để chia ra âm dương, là vì ngày mùng một là
ngày tử phách, âm hết dương bắt đầu sinh, mùng 3 là “Đốt”, ngày
13 là “Cơ”, ngày rằm thì trăng tròn, dần tới ngày 20 về sau vành
trăng khuyết dần, nước chảy về biển, khí huyết người ta cũng theo
sự thay đổi đó, kinh nguyệt của phụ nữ đủ tháng chứa lại đầy rồi
tràn ra mà thành kinh nguyệt, âm độ hết thì thiếu dương bắt đầu
sinh, lúc đó mới có khả năng thụ thai, cho nên từ ngày rằm trở lên
đầu tháng là thuộc dương.
Trong một ngày thì ban ngày là dương, ban đêm là âm; trong
12 giờ thì từ giờ tý đến giờ dần là dương trong âm, từ giờ mão đến
giờ tỵ là dương trong dương. Từ giờ ngọ đến giờ thân là âm trong
dương, từ giờ dậu đến giờ hợi là âm trong âm.
Bởi vì từ giờ tý trở đi là “Nhất dương sinh”, từ giờ ngọ trở đi là
“Nhất âm sinh”, cũng như đến tiết đông chí là “Nhất dương sinh”,
đến tiết hạ chí là “Nhất âm sinh”, nhà y dựa vào đó mà chia ngũ
tạng ra âm dương để tìm nguồn bệnh mà điều trị.
Tiết đông chí thì nhất dương sinh, tiết hạ chí thì nhất âm sinh,
hai tiết đó rất trọng yếu, “chí” có nghĩa là đến cùng tột, đến cùng
tột rồi lại sinh ra, âm cùng tột rồi dương lại sinh ra, từ không mà
hóa có, dương cùng tột rồi âm lại sinh ra, từ chỗ có mà hóa không,
đó là vì lẽ biến hóa của âm dương khác nhau. Còn tiết xuân phân
và thu phân chỉ là sự phân chia trung bình, nhưng tiết đông chí là
trọng yếu hơn cả vì nhất dương sinh là bắt đầu sự sinh hóa trở lại.
Sách Nội kinh nói: “Tiếp sau tướng hỏa là thủy khí kế thừa, tiếp
sau thủy khí là thổ khí kế thừa, tiếp sau thổ khí là phong khí kế
thừa, tiếp sau phong khí là kim khí kế thừa, tiếp sau kim khí thì
hỏa khí kế thừa, tiếp sau quân hỏa là âm tinh kế thừa, trong đó
nếu khi có một khí nào lấn lên quá là có hại mà khí kế thừa nó sẽ
chế ước lại nó”. (Ví như tiết đông chí âm thịnh cực độ thì dương sẽ
kế tiếp sinh ra, đây là nói âm thịnh lấn lên quá thì có hại, dương
khí nối tiếp theo đó sẽ chế ước lại; tiết hạ chí dương thịnh đến cực
độ thì âm sẽ kế tiếp sinh ra, đấy là nói dương lấn lên quá thì có
hại, âm khí nối tiếp theo đó sẽ chế ước lại. Song tiết đông chí nhất
dương đã sinh rồi, tiết trời đáng lý phải ấm dần, tại sao tháng
chạp lại rét nhiều và có băng tuyết. Tiết hạ chí nhất âm đã sinh
rồi, tiết trời đáng lý phải mát dần, tại sao trong tiết tam phục [70]
lại nóng bức dữ dội? Đó là do các khí sắp đến dồn đuổi, thì cái khí
đã hết nhiệm kỳ phải rút lui ngầm mà không thể dễ thấy rõ được.
Bởi vì dương phục ở dưới thì dồn đuổi âm lên trên trong lúc đó
nước đáy giếng có khí ấm mà mặt nước thì đóng băng. Âm thịnh ở
dưới dồn đuổi dương khí lên trên, cho nên hơi nước trong giếng
lạnh mà ngoài trời có sấm sét vang dậy. Bây giờ có người bị bệnh
mặt đỏ khát nước, buồn phiền vật vã, ho, như vậy ai chẳng bảo là
hỏa quá thịnh, song họ có biết đâu là vì âm hàn trong thận dồn
đuổi dương ra ngoài, thế mà đem cho uống thuốc hàn lương gây
tác hại không biết bao nhiêu người. Bầu trời bọc bên ngoài, đất ở
trong lòng bầu trời, trời đất là một vòng thái cực. Đem thân thể
người ta mà nói thì nhất dương nằm trong nhị âm, trong âm có
dương. Nam giới thì dương ở ngoài âm ở trong, nữ giới thì âm ở
ngoài dương ở trong, đó là một thái cực trong con người. Nam giới
thì đằng sau là dương mà đằng trước là âm. Nữ giới thì đằng sau
là âm mà đằng trước là dương. Hai tay người ta bên phải bên trái
cũng chia ra âm dương. Tay phải của nam giới thuộc hỏa, là khí,
tay trái thuộc thủy là huyết, nữ giới thì ngược lại tay trái thuộc
hỏa, là khí, tay phải thuộc thủy, là huyết. Những chứng phong tê
liệt nửa người, nam giới phần nhiều hay bị bên tả, nữ giới phần
nhiều hay bị bên hữu. Như vậy chẳng phải là do thủy không vinh
nhuận được hay sao? Trời khuyết về phía Tây bắc nên phía Tây Bắc
là âm, mà tai mắt bên phải của người ta không sáng bằng tai mắt
bên trái (ở trên hợp với tượng của trời). Đất khuyết về phía Đông
nam nên phương Đông nam thuộc dương, mà tay chân bên trái
của người ta không mạnh bằng tay chân bên phải (ở dưới hợp với
tượng của đất). Âm dương ở trong nhân thể thì lưng là dương,
bụng là âm, trên là dương, dưới là âm, ngoài là dương, trong là
âm, “âm ở trong để gìn giữ cho dương, dương ở ngoài để giúp đỡ
cho âm” (vì âm tĩnh cho nên trấn giữ cho dương, dương động cho
nên giúp đỡ cho âm). Nói nhiều là dương, im lặng ít nói là âm,
thích ánh sáng là dương, ưa bóng tối là âm, đầu là chỗ hội tụ các
kinh mạch dương, chân là nơi kết tụ của các kinh mạch âm. Khí là
dương, huyết là âm, (vô hình thuộc dương, hữu hình thuộc âm).
Biểu là dương, lý là âm, (ngoài da là biểu, trong ngực bụng là lý,
phần cơ nhục là bán biểu bán lý). Vệ lưu hành ở ngoài mạch là
dương, Vinh lưu hành ở trong mạch là âm (vệ thuộc vị khí, vinh
thuộc can huyết). Lục tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận và tâm bào) là
âm; Lục phủ (tiểu trường, đởm, vị, đại trường, bàng quang, tam
tiêu,) là dương. Đem tinh đối với huyết mà nói thì tinh trong là
dương, huyết đục là âm. Đem tinh huyết đối với thần khí mà nói
thì thần khí vô hình là dương, tinh huyết hữu hình là âm (huyết
sinh ra tinh, tinh sinh ra khí, khí sinh ra thần, cũng đều là một loại.
Tinh, khí, thần là ba thứ rất quý báu trong nhân thể. Âm cực độ thì
tựa như dương, đó là hàn tột độ sinh ra nhiệt (cũng như nghĩa
thủy tột độ tựa như hỏa, âm thịnh làm đối kháng với dương).
Dương tột độ tựa như âm, đó là nhiệt thịnh tột độ thì sinh ra hàn
(cũng như nghĩa là hỏa tột độ tựa như thủy, dương thịnh làm đối
kháng với âm). Các bậc hiền triết rất e ngại cho kẻ hậu học không
hiểu cái lý sâu sắc của âm dương, nay tôi xin trình bày như sau.
Ban đêm sợ lạnh, ban ngày yên lặng là vì tâm huyết vượng ở
phần âm.
Ban đêm yên lặng, ban ngày sợ lạnh là âm khí tràn lên phần
dương.
Ngày đêm đều sợ lạnh là trùng âm mà không có dương (nên
tả phần âm và đạt bổ phần dương).
Ban đêm yên tĩnh, ban ngày phát nóng là dương khí vượng ở
phần dương.
Ban đêm nóng bứt rứt, ban ngày yên tĩnh là dương khí hãm
xuống phần âm.
Ngày và đêm đều bốc nóng, buồn phiền mà vật vã là trùng
dương mà không có âm (nên tả phần dương đại bổ phần âm).
Ngày lạnh đêm nóng là âm dương giao biến, sẽ chết.
Ngày nặng đêm nhẹ là dương còn toàn vẹn, trong miệng lạt
không có mùi vị là chứng dương hư, từ quá trưa phát nóng đến
nửa đêm thì lên cơn là nửa phần âm, và toàn phần dương bị hư (ví
như ban ngày thì dưới mắt có vết, ban đêm thì không có vết là vì
ban ngày mạch đi ở ngoài, ban đêm mạch đi ở trong).
Dương là số 1 mà thực, âm là số 2 mà hư, bởi số 2 của âm là
do số 1 của dương chia ra, cho nên mặt trời bao giờ cũng tròn mà
mà mặt trăng thì có khi tròn khi khuyết.
Con người mới sinh ra thuần dương không có âm; (thuần
dương là trĩ dương, tức dương còn non, không nên cho thuần
dương mà dùng bừa bãi những thuốc hàn lương để công phạt),
nhờ khí Quyết âm của mẹ (sữa mẹ thuộc âm kinh) cho bú mớm
sinh ra âm, cho nên con trai đến 16 tuổi thì tinh mới thông, 64
tuổi thì tinh đã cạn. Con gái đến 14 tuổi thì bắt đầu hành kinh, 49
tuổi thì đã mãn kinh.
Tinh của người ta chỉ ứng dụng trong vòng 30 năm, như thế
có thể thấy rằng dương thường có thừa, âm thường không đủ.
Huống chi con người hay có nhiều tình dục mà không biết tiết dục,
cho nên từ lúc còn trẻ tới tuổi già thường phải luôn luôn bổ âm.
Chữ âm ở đây là chỉ vào âm tinh, không phải là nói chung cả âm
huyết, nay thường đem bài Tứ vật gia Tri bá để bổ âm là nhầm.
Vương Tiết Trai nói: “Trong 10 bệnh thì đến 8,9 bệnh là do thủy hư
gây nên mà do hỏa hư chỉ độ 2,3 bệnh”, là hiểu được ý ấy. Chử Thị
Trung nói: “Nam giới chân âm đã bị hư hao vẫn tưởng nghĩ tới sắc
dục để cho tinh xuất thì tinh đã không thể ra được mà bị hư hại ở
trong, tiểu tiện gắt khó đi như bệnh lậu. Dương đã suy mà còn làm
cho hao kiệt thêm thì lúc đi tiểu tiện, càng đi bao nhiêu lại càng
đau bấy nhiêu”. Song trong âm có thủy và hỏa, thủy bị hư nhiều là
lẽ cố nhiên, nhưng hỏa bị hư cũng không phải là ít, chưa có khi
nào tinh đã tiết, âm đã bị hư mà nguyên dương lại còn nguyên
vẹn một mình được. Huống chi âm dương đều cùng bắt rễ lẫn
nhau. Cho nên bổ âm nhưng vẫn phải chú trọng tới dương vì
không có dương thì âm không thể sinh được. Tiêu kinh nói: “Còn
tồn tại được một chút dương khí thì không chết”. Bởi vì khí ấm
trong nhân thể tức là dương khí, đến khi chết thì hình xác còn đó
mà khí bị tiêu tan, sống cũng do dương mà chết cũng do dương,
dương phục hồi thì sống, dương thoát thì chết, dương có tròn vẹn
thì âm mới vững chắc, dương tiêu thì âm mất. Cho nên người ta
sống còn là nhờ ở một chút chân dương để vận hành mãi mãi,
không nên cho rằng dương thường có thừa, mà đem những thuốc
khổ hàn để công phạt.
II – NGŨ HÀNH
(Tức là: Kim, thủy, mộc, hỏa, thổ)

  1. Tương sinh: Kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa,
    hỏa sinh thổ, thổ sinh kim.
  2. Tương khắc: Kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy,
    thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim.
  3. Thuộc về 5 phương: Phương Đông thuộc mộc, phương Tây
    thuộc kim, phương Nam thuộc hỏa, phương Bắc thuộc thủy, trung
    ương thuộc thổ.
  4. Thuộc về 4 mùa: Mùa xuân thuộc mộc, mùa hạ thuộc hỏa,
    mùa thu thuộc kim, mùa đông thuộc thủy, tháng cuối trong 4 mùa
    thuộc thổ.
  5. Thuộc về ngũ sắc: Kim thuộc sắc trắng, mộc thuộc sắc
    xanh, thủy thuộc sắc đen, hỏa thuộc sắc đỏ, thổ thuộc sắc vàng.
  6. Vượng, tướng, hưu, tù, tử: Ở đây nói hành nào tại chức là
    “vượng”, hành nào do hành tại chức sinh ra là “tướng”, hành nào
    sinh ra hành tại chức là “hưu”, hành nào khắc hành tại chức là
    “tù”, hành tại chức khắc cái hành nó thắng là “tử”. Cứ theo loại
    như thế mà sinh ra.
  • Mùa xuân mộc là vượng, hỏa là tướng, thủy là hưu, kim là
    tù, thổ là tử.
  • Mùa hạ hỏa là vượng, thổ là tướng, mộc là hưu, thủy là tù,
    kim là tử.
  • Mùa thu kim là vượng, thủy là tướng, thổ là hưu, hỏa là tù,
    mộc là tử.
  • Mùa đông thủy là vượng, mộc là tướng, kim là hưu, thổ là tù,
    hỏa là tử.
  1. Thuộc về lục thân: Sinh ra nó là cha mẹ, nó sinh ra là con
    cháu, nó khắc là thê tài, khắc nó là quan quỷ, hòa ngang với nó là
    anh em.
  2. Thuộc về ngũ tạng: Tâm, bào lạc thuộc hỏa, can thuộc
    mộc, phế thuộc kim, thận thuộc thủy, tỳ thuộc thổ.
  3. Thuộc về lục phủ: Tiểu trường, tam tiêu thuộc hỏa, đởm
    thuộc mộc, đại trường thuộc kim, bàng quang thuộc thủy, vị thuộc
    thổ.
  4. Thuộc về ngũ tính: Tính ấm (ôn) thuộc thổ, tính mát
    (lương) thuộc mộc, tính lạnh (hàn) thuộc thủy, tính ráo (táo) thuộc
    kim, tính nóng (nhiệt) thuộc hỏa.
  5. Thuộc về ngũ vị: Vị chua thuộc mộc, vị đắng thuộc hỏa, vị
    mặn thuộc thủy, vị ngọt thuộc thổ, vị cay thuộc kim.
  6. Thuộc về lục dâm: Phong thuộc mộc, hàn thuộc thủy,
    thấp thuộc thổ, táo thuộc kim, thử thuộc hỏa.
  7. Cang hại thừa chế: Ví như can mộc lấn lên quá thì sẽ hại
    tỳ thổ, con của tỳ thổ là phế kim nhờ được khí của mẹ mà phục
    thù tức là chế ước lại can mộc. Đó là lẽ thắng phục của ngũ hành,
    bốn hành kia cũng theo loại như thế mà sinh ra. Nội kinh nói: Xin
    cho biết chữ “Bình khí” trong Ngũ vận vì sao mà đặt tên? Vì sao
    mà tiêu biểu cho “khí”? Kỳ Bá đáp:
    Cái gọi là bình khí là: mộc gọi là “phu hòa”, nó phân bố ra khí
    ôn hòa làm cho vạn vật tươi tốt, hỏa gọi là “thăng minh”, sáng
    chói mà có cái khí thịnh trưởng, làm cho vạn vật dồi dào; thổ gọi
    là “bị hóa”, đầy đủ khí sinh hóa vạn vật, làm cho vạn vật được đầy
    đủ hình thể; kim gọi là “thẩm bình”, phát ra khí yên tĩnh hòa bình,
    làm cho vạn vật kết quả; thủy gọi là “tĩnh thuận”, có khí tĩnh mịch
    hòa thuận, làm cho vạn vật bế tàng.
    Ở trường hợp bất cập thì mộc gọi là “ủy hòa”, không có khí
    ôn hòa, làm cho vạn vật rũ rượi không phấn chấn; hỏa gọi là
    “phục minh”, ít khí ấm áp, làm cho vạn vật ảm đạm không sáng;
    thổ gọi là “ty giám”, không có khí sinh hóa, làm cho vạn vật yếu
    ớt không có sức; kim gọi là “tòng cách”, không có khí cứng cỏi,
    làm cho vạn vật mềm dãn không có sức đàn hồi; thủy gọi là “hát
    lưu”, không có khí phong tàng (giấu kín), làm cho vạn vật khô
    queo.
    Trường hợp thái quá thì: Mộc gọi là “phát sinh”, khuếch tán
    khí ôn hòa quá sớm, làm cho vạn vật sớm phát dục; hỏa gọi là
    “hách hy”, khuếch tán hỏa khí cường liệt làm cho vạn vật đốt
    cháy chẳng yên; thổ gọi là “đôn phu”, có khí nồng hậu rắn chắc,
    trở lại làm vạn vật không thể thành hình; kim gọi là “kiên thành”,
    có khí cứng cỏi làm cho vạn vật ngay thẳng; thủy gọi là “lưu diễn”,
    có khí đầy tràn làm cho vạn vật phiêu lưu không thể về chỗ, thái
    quá là làm mất sức bình thường (cậy sức khỏe lấn át các hành
    khác) thì kẻ thắng mình sẽ tới trả thù mình, lệnh vừa phải thì sẽ
    đồng hóa với cái sở thắng (nếu thời lệnh không làm khắc phạt thái
    quá thì cái thắng mình và cái mình thắng đều đồng hóa không hại
    nhau). Đó là cách làm thuốc cũng giống như cách cai trị. Trong
    ngũ hành thì chỉ có hai hành thổ và kim là nhờ vào khí tương sinh
    cho nên muốn bổ vào thổ và kim thì phải bổ vào cho mẫu khí là
    cái khí sinh ra nó. Vì vậy, Lý Đông Viên có phép bổ cách lần tức là
    bổ vào mẫu khí, có phép bổ cách 3 lần, tức là bổ vào chỗ sinh ra
    mẫu khí (như bổ hỏa để sinh thổ là bổ cách 2 lần, bổ mộc để sinh
    hỏa rồi hỏa sinh thổ là bổ cách 3 lần, như thang Quy tỳ chẳng
    hạn). Duy có thủy và hỏa thì do (chân nguyên) nó tự sinh ra vì
    sinh cơ của thủy hỏa chỗ nào cũng có, ví như xát gỗ cũng lấy được
    lửa, choảng đá cũng lấy được lửa, hoặc ở trong kính lúp cũng lấy
    được lửa; so với việc lấy nước cũng vậy, đào đất lấy nước, hứng
    sương lấy nước. Nếu kim, mộc hoặc thổ bị chết không thể cứu
    được, cho nên trong ngũ hành đặc biệt chú trọng về thủy hỏa.
    Người ta đều cho rằng thủy khắc hỏa, kim khắc mộc, thổ khắc
    thủy, mộc khắc thổ. Riêng họ Triệu cho rằng thủy nuôi hỏa, thủy
    sinh kim, bổ thổ ở trong thủy, nuôi mộc để bồi bổ cho thổ. Bởi vì
    quân hỏa và tướng hỏa đều lấy thận làm căn cứ. Thủy khắc hỏa là
    thủy hỏa hữu hình của hậu thiên, còn thủy nuôi hỏa là thủy hỏa vô
    hình của tiên thiên. Ví như khí của phế kim, ban đêm người ta ngủ
    thì trở về tàng ở trong thận thủy. Phế tạng là một tạng non nớt,
    nếu trong thận có hỏa thì phế kim sẽ sợ hỏa khắc mà không dám
    trở về. Nếu trong thận không có hỏa, thì thủy lạnh làm kim rét mà
    cũng không dám trở về, hoặc sinh ra chứng tức thở, hoặc làm ra
    ho, ọe, hoặc không ngủ không ăn, khi đó muốn bổ mẹ (thổ) để bổ
    ích cho con thì tức thở càng tăng, muốn thanh tả đi thì phế kim
    ngày càng bị hao mòn lại càng chóng chết, chỉ có cách thu liễm
    thì còn hơi hợp lý. Bởi vì phế chủ đưa khí ra, thận chủ nạp khí vào,
    phế là sở chủ của khí, thận là nguồn gốc của khí, phàm người ho
    quá nặng thì động đến khắp cả người, tự cảm thấy khí từ dưới rốn
    đưa xốc lên, đó là vì thận hư không thu được khí về nguyên chỗ
    cho nên như vậy. Khi đó chớ nên khư khư về việc chữa phế mà
    phải nên bổ thủy làm chính, hoặc bổ ích cho chân hỏa, hỏa sẽ từ
    trong thủy mà sinh ra. Nếu nói về thổ nó sinh ra do ở hỏa, muốn
    bổ cho nó phải nên bổ hỏa, nhưng mà bổ hỏa có một lý rất tài
    tình, vì Dương minh vị thổ sinh ra ở Thiếu âm tâm hỏa, muốn bổ vị
    thổ thì nên bổ tâm hỏa, mà dùng thang Quy tỳ tức là để bổ từ chỗ
    sinh ra thổ. Thái âm tỳ thổ nhờ Thiếu dương tướng hỏa mà sinh ra,
    muốn bổ tỳ thổ thì phải bổ cho tướng hỏa, mà bài Bát vị hoàn thì
    làm cho thủy hỏa giúp đỡ nương tựa lẫn nhau để làm nhừ nát cơm
    nước. Còn như mộc thì người ta cho là mộc khắc thổ, muốn công
    phạt nó, nhưng không hiểu rằng mộc nhờ có thổ mới sinh trưởng
    có lẽ nào khắc lại được, chỉ có khi nào mộc bị uất ở dưới thì khí
    của nó mới quay trở xuống khắc thổ mà thôi. Bởi vì mộc là sinh
    trưởng vô tận, bắt đầu từ phương đông, mà lúc mới nảy ra lẽ đâu
    lại công phạt hay sao.
    Vì thế bài Bổ trung ích khí trong Tỳ vị luận của Lý Đông Viên
    trọng dụng Thăng Sài để khai uất của mộc. Mỗi hành trong ngũ
    hành đều có đủ 5 tính chất.
    Lấy hành hỏa mà nói thì dương hỏa là mặt trời, sinh ra ở giờ
    dần tắt ở giờ dậu.
    Âm hỏa là hỏa của đèn đuốc, sinh ra ở giờ dậu, tắt ở giờ dần,
    đó là nói về sự tương đối.
    Còn như hỏa ở trong thủy là hỏa của sấm sét, có tiếng nhưng
    không có hình gặp nhiều mưa lại càng bốc.
    Hỏa ở trong lò là hỏa trong tro than, không cháy lên ngọn,
    gặp được củi gỗ (mộc) thì bốc khói, gặp ẩm ướt thì tắt đi, cần phải
    vun than giữ hơi nóng, tựa như hỏa của tỳ thổ trong nhân thể,
    phải dùng những thuốc cam ôn để trừ nhiệt là nghĩa đó (cam ôn
    năng trừ đại nhiệt).
    Hỏa ở trong không trung thì nương tựa vào mộc, nhờ sự tư
    dưỡng của Khảm thủy, cho nên hỏa nó không xì ra ngoài.
    Duy có hỏa ở trong củi khô thì bốc cháy lan tràn, không thể
    nào ngăn cản được, cháy hết thì thôi.
    Can hỏa bốc cháy trong cơ thể làm cho buồn bực, phải dùng
    các vị tân lương cho phát đạt ra. Nội kinh nói: “Mộc bị uất thì cần
    phải điều đạt, hỏa bị uất thì phải cho phát ra, làm cho thuận với
    tính điều đạt và bốc lên của nó”. Nếu đem thuốc hàn lương để cho
    hạ thì mộc lại càng uất, đem thuốc nhiệt cho uống thì hỏa lại càng
    bốc.
    Hỏa trong kim là ở trong những mỏ vàng mỏ bạc trong núi
    hoặc trong những nơi chôn giấu kim loại, ban đêm có ánh sáng đó
    là kim uất trong thổ không phát ra được cho nên ban đêm có ánh
    sáng lóe ra ngoài, các lỗ chân lông trên da thịt cảm thấy như kim
    châm muỗi đốt và trên đầu nóng như lửa bốc, đó là khí ở phế kim
    bị hư, hỏa thừa lúc hư mà phát hiện ra, vì phế chủ bì mao cho nên
    như vậy. Nội kinh nói: “Mộc ở phương đông thực thì kim ở phương
    tây bị hư. Bổ thủy phương bắc là để tả hỏa phương nam”.
    Nói về thủy thì:
    Dương thủy là Khảm thủy, tức là khí, là một hào dương nằm
    giữa hai hào âm, thủy khí đi ngầm trong đất, làm căn bản sinh
    trưởng cho vạn vật, vì chất nước thấm nhuần là chất (nước) thủy
    dịch của khí, cho nên có thể gọi là thủy ở trong hỏa, hay gọi là
    thủy ở trong thổ cũng được.
    Âm thủy là Đoài thủy, là loại thủy hữu hình, một hào âm nằm
    ngang trên hai hào dương, lấy chất nước hữu hình đó phun tưới
    cho vạn vật sinh sống tốt tươi, nước ở trên tức là nước mưa móc,
    nước ở dưới là nước suối khe.
    Con người khi ăn uống vào trong dạ dày, hỏa ở mệnh môn
    chưng nấu thức ăn nhừ nát, khí của thức ăn bốc lên phế nhờ có
    phế thông với các mạch trong người, đem chất nước tinh vi đó
    phân bố khắp nơi suốt ngũ tạng, ra tới ngoài da, đi lên thành mồ
    hôi, nước mũi, nước miếng, nước bọt, thấm xuống bàng quang làm
    thành ra nước tiểu. Còn như huyết cũng là thủy, vì nó đi theo
    tướng hỏa nên riêng nó có sắc đỏ, tuần hoàn khắp trong cơ thể
    chảy khắp rồi trở về, mãi mãi không ngừng. Nó ở trên là nước cọc
    rào (thiên hà thủy), ở dưới là nước dòng sông (trường lưu thủy)
    phát xuất ra thiên môn phía Tây bắc và sau cùng tới địa hộ phía
    Tây nam, đúng như câu Đường thi nói: “Nước sông Hoàng hà từ
    trên trời xuống, chảy ra khơi rồi chảy quay về”. Bởi thế sông
    Hoàng hà và nước biển cùng một màu (Tương tiến tửu – của Lý
    Bạch).
    Thủy ở trong kim tức là chất thủy ngân trong mỏ, trong nhân
    thể thì chất tủy ở trong xương, là một bảo vật ở trong người, rất
    tinh rất quý.
    Thủy ở trong mộc là tốn mật ở vào phần khảm thủy, chất
    nước đó đưa lên tức như chất nhựa sống của cây cối, người ta ở
    dưới chân có huyệt Dũng tuyền, trên vai có huyệt Kiên tỉnh, đó là
    đường thủy đi ngầm, phàm những tân dịch thấm nhuần khắp
    trong da đều là như nước giếng nước suối cả.
    Thủy có nhiều thứ khác nhau như vậy nhưng tóm lại đều chảy
    về biển cả, thủy trong vũ trụ thì đều chảy về biển, thủy ở trong
    người thì đều lấy thận làm nguồn, mà sở dĩ nó được chu lưu ngày
    đêm không ngừng là nhờ có khí của nguyên dương để thành một
    thái cực vô tận. Ngũ hành ở trong thủy hư là như vậy còn thổ mộc
    kim cũng có thể suy đó ra mà biết được. Nội kinh nói: “Biết được
    thủy hỏa thì biết được cái khác”.
    III – BÁT QUÁI
    Càn liền 3 Khôn sáu hở
    Ly khuyết giữa Khảm đầy giữa
    Cấn chén úp Chấn chén ngửa
    Đoài khuyết trên Tốn dưới vỡ
    Đó là 8 hình tượng của bát quái.
    Càn Khảm Chấn Cấn là dương, Tốn Ly Khôn Đoài là âm, đó là
    cách chia bát quái ra làm âm dương (trong bát quái thì Càn và
    Khôn làm đầu, chủ về âm dương. Tại sao Khảm Chấn Cấn nhiều
    hào âm mà lại thuộc dương, Tốn Ly Đoài nhiều hào dương mà lại
    thuộc âm? Bởi vì dương ở trong âm là thiếu dương biến theo quẻ
    Càn, âm ở trong dương là thiếu âm hóa theo quẻ Khôn, cho nên lệ
    thuộc càn và khôn làm tiêu biểu cho âm dương, học giả thấy đó sẽ
    rõ.
    Càn số 1, Đoài số 2, Ly số 3, Chấn số 4, Tốn số 5, Khảm số 6,
    Cấn số 7, Khôn số 8 (đó là số quẻ của tiên thiên hà đồ). Càn số 6,
    Khảm số 1, Chấn số 3, Cấn số 8, Tốn số 4, Ly số 5, Khôn số 2, Đoài
    số 7 (đó là số quẻ của hậu thiên lạc thư). Dịch/ tiên thiên nói:
    “Thiên nhất sinh thủy là lấy theo số 1 của càn”. Dịch/ hậu thiên
    nói: “Địa nhị thành chi là theo số 2 của khôn”, đó là thủy hỏa vô
    hình của tiên thiên hậu thiên. Nhà Y cho rằng thận ở vào quẻ
    Khảm là vì một hào dương nằm giữa hai hào âm là mệnh môn
    hỏa, tức là thiên nhất sinh thủy nó thuộc về tiên thiên là thứ thủy
    hỏa vô hình, còn tâm, can, tỳ, phế, thận là hữu hình đều thuộc về
    hậu thiên. Càn Đoài sắc trắng thuộc về phương tây, Chấn Tốn sắc
    xanh thuộc về phương đông, Ly sắc đỏ thuộc phương nam, Khảm
    sắc đen thuộc phương bắc, Khôn Cấn sắc vàng thuộc trung ương,
    đó là bát quái thuộc vào ngũ sắc ngũ phương.
    Can thuộc quẻ Chấn (chấn là sấm cho nên gọi là lôi hỏa).
    Đởm thuộc quẻ Tốn (tốn là phong cho nên gọi là phong hỏa).
    Phế thuộc quẻ Càn (càn là trời, phế chủ về điều hòa tiết chế
    tựa như khí trời đưa xuống dưới).
    Tỳ thuộc quẻ Khôn (khôn là đất, tỳ khí đưa lên vào phế tựa
    như khí đất thông lên trời).
    Vị thuộc quẻ Cấn, tâm thuộc quẻ Ly (quẻ ly khuyết ở trong
    cho nên nói trong tâm có chất dịch đỏ tức là chân âm).
    Thận thuộc quẻ Khảm (khảm là rồng cho nên gọi là long hỏa,
    long hỏa ghé với can hỏa gọi là long lôi hỏa).
    Đại tiểu trường thuộc quẻ Đoài, đó là ngũ tạng quy nạp vào
    bát quái.
    Quẻ Khảm ở trên, quẻ Ly ở dưới là thủy hỏa ký tế, kinh Dịch
    nói: “Cương và nhu được bình thường thì địa vị đúng”, ở trong
    nhân thể khí thận thủy đưa lên tâm, khí tâm hỏa đưa xuống thận,
    là khí của tâm thận giao nhau gọi là “thủy hỏa ký tế” thì sẽ không
    có bệnh.
    Quẻ Ly ở trên, quẻ Khảm ở dưới là “thủy hỏa vị tế”. Kinh Dịch
    nói: “không đúng vào bản vị thì cương và nhu đều mất công
    dụng”. Tâm hỏa trong con người không giao xuống với thận, thận
    thủy không đạt lên trên với tâm, đó là khí của tâm thận chưa giao
    nhau, là “thủy hỏa vị tế”, như vậy thì phát sinh mọi bệnh.
    Quẻ Khôn ở trên, quẻ Càn ở dưới gọi là “địa thiên thái”, kinh
    Dịch nói: “Trời đất giao hòa thì vạn vật được hanh thông”. Trong
    nhân thể khí tỳ thổ đưa lên phế, khí phế kim đưa xuống tỳ thì các
    nước tinh vi phân bố mọi nơi khắp trong ngũ tạng là Thái. Đó là
    âm dương giao mà khí huyết điều hòa.
    Quẻ Càn ở trên, quẻ Khôn ở dưới là “thiên địa bĩ”. Kinh Dịch
    nói: “Trời đất không giao hòa thì vạn vật không thông”, ở trong
    nhân thể thì âm khí của tỳ không thăng lên tới phế, dương khí của
    phế không giáng xuống tới tỳ, âm dương cách trở nhau, trên dưới
    không thông với nhau là Bĩ. Đó là bệnh quan cách.
    IV – MƯỜI CAN (4 điều)
    Giáp Ất thuộc mộc, Bính Đinh thuộc hỏa, Mậu Kỷ thuộc thổ,
    Canh Tân thuộc kim, Nhâm Quý thuộc thủy. Đó là mười can thuộc
    vào ngũ hành.
    Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuộc dương. Ất, Đinh, Kỷ, Tân,
    Quý thuộc âm. Đó là 10 can thuộc vào âm dương.
    Đởm thuộc Giáp, can thuộc Ất, tiểu trường thuộc Bính, tâm
    thuộc Đinh, vị thuộc Mậu, tỳ thuộc Kỷ, đại trường thuộc Canh, phế
    thuộc Tân, bàng quang thuộc Nhâm, thận thuộc Quý. Đó là tạng
    phủ thuộc vào 10 can.
    BÀI THƠ QUY THUỘC
    Giáp đởm, Ất can, Bính tiểu trường.
    Đinh tâm, Mậu vị đúng trăm đường
    Kỷ tỳ, Canh đại, Tân là phế
    Quý thì thuộc thận, Nhâm bàng quang.
    Giáp Ất thuộc phương Đông, Bính Đinh thuộc phương Nam,
    Canh Tân thuộc phương Tây, Nhâm Quý thuộc phương Bắc, Mậu
    Kỷ thuộc Trung ương. Đó là 10 can thuộc vào 5 phương.
    V – 12 CHI
    Hợi Tý thuộc thủy. Dần Mão thuộc mộc, Tỵ Ngọ thuộc hỏa,
    Thân Dậu thuộc kim, Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ. Đó là 12 chi
    thuộc vào ngũ hành.
    Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn là dương. Tỵ, Dậu, Sửu, Hợi,
    Mão, Mùi là âm. Đó là 12 chi thuộc vào âm dương.
    Dần Mão thuộc phương đông, Tỵ Ngọ thuộc phương nam,
    Thân Dậu thuộc phương tây, Hợi Tý thuộc phương bắc, Thìn Tuất
    Sửu Mùi thuộc trung ương. Đó là 12 chi thuộc vào ngũ phương.
    Đởm thuộc Dần, can thuộc Mão, tâm thuộc Tỵ, tiểu trường
    thuộc Ngọ, đại trường thuộc Thân, phế thuộc Dậu, thận thuộc Hợi,
    bàng quang thuộc Tý, vị thuộc Thìn Tuất, tỳ thuộc Sửu Mùi. Đó là
    tạng phủ quy thuộc vào 12 chi.
    BÀI CA QUY THUỘC
    Dần đởm, mão can, tỵ tâm
    Tiểu trường thuộc ngọ, mà thân đại trường
    Dậu phế, hợi thận, tý bàng (bàng quang)
    Sửu, mùi, thìn, tuất hợp sang vị tỳ.
    Vì đạo lý của nghề y có liên quan với dịch lý cho nên trên đây
    đem âm dương ngũ hành, mười can, mười hai chi xếp vào đầu
    quyển, để giúp cho sự nghiên cứu y học bước đầu, trong sách nói
    trước hết: “Học hiểu lẽ kinh dịch rồi sau mới có thể học thuốc”
    chính là nghĩa đó.

Khám phá thêm từ Y Đạo Thời Đại

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc