BẢY MẠCH BIỂU
(Tham khảo với mạch thất biểu ở trên mục XXXII
- Mạch phù: là loại mạch dương, ấn ngón tay xuống thấy
sức đập kém, nhấc nhẹ tay lên thì mạch thấy dồi dào; tìm cẩn
thận đôi ba lần thì thấy có vẻ như thừa thãi thái quá. Chủ về bệnh
ho, hơi thở gấp lạnh, lưng và bắp tay mỏi mệt, đêm ngủ không
yên giấc.
(Mạch phù là dương kim, ấn tay vào không đầy đủ là do âm
không đầy đủ, nâng nhẹ tay thấy có thừa dồi dào, là dương khí
thái quá).
CA RẰNG
Ấn không đủ nhấc có thừa,
Tìm lâu cho kỹ mạch phù dưới tay,
Vinh thì nhiệt tạng lạnh thay
Muốn cho tinh đủ liệu bài bổ hư.
Cách chẩn bệnh ở trong thì tìm mạch trầm, ấn nặng tay thì
thấy. Bệnh ở ngoài thì tìm mạch phù, đặt nhẹ tay đã tìm thấy.
Mạch dồi dào có thừa là nhiệt; không đầy đủ là hàn; nay ấn vào
thấy không đầy đủ là trong tạng có hàn, nhấc tay nhẹ thấy có
thừa là trong Vinh có nhiệt, âm không đủ mà dương có thừa, thì
nên chữa bằng bài Địa cốt bì tán (Nhật/23).
Thốn phù đầu nhức trúng phong
Quan phù bụng trướng trong lòng rỗng không.
Mạch tả thốn chủ hồng đại mà nay thấy phù (kim) là ngoại
cảm phong tà. Mạch hữu thốn chủ sáp (kim) mà thấy phù (kim)
nên cho uống Sâm tô ẩm (Nhật/45).
Mạch tả quan chủ huyền (mộc) mà thấy mạch phù (kim).
Mạch hữu quan thuộc hoãn (thổ) mà thấy phù (kim) thì nên dùng
bài Bồi thổ cố trung (Hiệu phỏng/1) gia Bạch thược.
Xích phù là phế có phong,
Khó đi đại tiện khổ trong đại tràng.
Mạch tả xích chủ về trầm (thủy) nay có mạch phù; hữu xích
chủ về mạch của tướng hỏa, nay có mạch kim phù, nên chữa bằng
Tứ vật thang (Khôn/21), nếu không khỏi thì uống thang Lục vị
(Huyền/2). - Mạch khâu: là loại mạch dương, sờ tay vào chỉ thấy hai
bên có mạch động ở giữa không có gì cả, chủ về khí lâm lịch vào
tiểu tràng. (Mạch khâu là mạch dương hỏa. Trương Khiết Cổ nói:
mạch huyền phù không có lực, hiện ở thốn khẩu thì thổ huyết,
hiện ở dưới thì đi tả ra huyết, hiện ở giữa thì trung tiêu có bệnh).
CA RẰNG
Đặt tay thấy rỗng như không,
Tiểu tràng đã bị tà phong lọt vào,
Tiểu tiện nhỏ giọt buốt đau
Thang hoàn chữa mạch bệnh sau sẽ trừ
Khâu ở thốn bệnh sinh ra
Máu ngừng trong ngực lòng đà không an.
Mạch tả thốn chủ về hồng (hỏa) nay thấy khâu (hỏa), mạch
hữu thốn chủ sắc (kim) nay thấy khâu (hỏa) chữa bằng thang Tứ
vật (Khôn/21) bỏ Xuyên khung gia Đơn bì, Liên nhục.
Quan khâu ruột có ung sang
Đào hồng Tứ vật liệu đàng chữa yên.
Tả quan chủ về huyền (mộc), nay thấy mạch khâu (hỏa). Hữu
quan chủ về hoãn (thổ) nay thấy mạch khâu (hỏa), chữa bằng Đào
hồng Tứ vật thang.
Xích khâu thận bị hư hàn
Đái rắt đái máu lại xen mủ màng.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy mạch khâu (hỏa), hữu
xích chủ mạch tướng hỏa, nay thấy mạch khâu (hỏa), nên chữa
bằng Tứ linh tán (Nhật/27). - Mạch hoạt: là loại mạch dương, đặt tay vào 3 bộ thấy tựa
hồ như hạt châu lăn động, ấn vào thấy lặn xuống (phục), bao giờ
cũng đều đều không sai chỗ là mạch hoạt. Chủ bệnh chân tay mỏi
mệt, nhức nhối, tiểu tiện đỏ ít (Mạch hoạt là dương thủy).
CA RẰNG
Mạch hoạt như châu thuộc dương
Ngang lưng tinh khí bàng quang thấu vào
Chân đau nóng lạnh sốt nhiều,
Muốn lành thì tả tam tiêu sẽ lành.
Tiểu tiện đỏ ít, ngang lưng có khí là do mệnh môn sinh ra,
mạch trơn tru mà sác, ngang lưng sinh khí là chỉ về mệnh môn.
Khí ở mệnh môn và tam tiêu hãm xuống bàng quang cho nên tiểu
tiện không thông, đại tiện táo bón, nóng nhiều lạnh ít, cho nên hạ
thì sẽ khỏi, cho uống Tứ vật thang gia Đại hoàng, Chỉ xác.
Thốn hoạt nôn mửa bất bình
Quan hoạt lạnh dạ, ăn đành chẳng ngon.
Mạch tả thốn chủ về hồng (hỏa), nay thấy hoạt (thủy). Hữu
thốn chủ về sắc (kim), nay thấy hoạt (thủy), là thủy và kim hợp
lại, làm ra khí ủng trệ mà sinh mửa, chữa bằng bài Sinh khương
bán hạ thang (Nhật/28).
Mạch tả quan chủ hoãn (thổ), nay thấy hoạt là trung tiêu hư,
nên ăn uống không tiêu. Mùa xuân hạ nên uống Bình vị tán, mùa
thu đông uống Lý trung thang (Nhật/40). Nếu có chứng biểu thì
uống Tiểu sài hồ thang (Nhật/37) gia Quan quế, Bán hạ.
Xích hoạt dưới rốn kết hàn,
Hạ tiêu đọng nước sôi ran trong lòng.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy hoạt (thủy) là hàn kết
ở bàng quang, cho nên dưới rốn tựa như có nước. Thủy tụ ở dưới
không đưa lên giao hòa với hỏa cho nên hãm xuống nước; nước
đọng lại ở hạ tiêu không chuyển đi khắp các tạng được, cho nên
thành tiếng sôi ong óc. Mạch hữu xích chủ về tướng hỏa; nay thấy
mạch hoạt (thủy) là thủy thắng hỏa cho nên dưới rốn có nước.
Tướng hỏa vốn là hỏa ở trong thủy không đủ sức để thắng cho nên
ham uống nước, nước đọng sôi thành tiếng, chữa bằng Phụ tử Tứ
nghịch thang (Nhật/35). - Mạch thực: là loại mạch dương, ấn nặng dưới ngón tay
vẫn thấy có như thường, nhấc tay lên thấy sức chạy có thừa là
mạch thực; Chủ bệnh dương phục ở trong; Tỳ hư không ăn được,
chân tay mỏi mệt (Mạch thực là dương hỏa, xem ở bài ca mạch
thực dưới đây).
CA RẰNG
Mạch thực sức chạy có thừa
Tỳ hư dương phục nóng từ ở trong,
Kém ăn vị nhiệt vô cùng
Thuốc ôn hòa liệu đem dùng sẽ yên.
Mạch thực là dương phục ở trong, thì hàn sẽ đóng ở ngoài,
mà trong nóng bừng bừng; nóng quá thì hại kim, kim bị thương thì
sẽ hư, kim hư thì không bình được mộc; mộc thịnh thì lại khắc thổ,
cho nên tỳ vị hư. Tỳ bị nhiệt cho nên vị cũng nhiệt, Vị nhiệt thì bị
ủng tắc cho nên kém ăn; Thuốc ôn hòa là loại Bình vị tán
(Nhật/34) hoặc Dị công tán (Khôn/11) gia Hoàng cầm càng tốt
hơn.
Thực ở thốn, ngực nóng nhiều
Thực vào quan bộ, đau miền trung tiêu.
Mạch tả thốn hồng (hỏa), nay thấy mạch thực (hỏa). Mạch
hữu thốn chủ về sắc (kim), nay thấy mạch thực là trong lồng ngực
(kim) có hỏa chốt ở đấy làm nóng dữ, cho uống Lương cách tán
(Nhật/36).
Mạch tả can chủ mạch huyền (mộc), nay thấy mạch thực
(hỏa) là trung tiêu có phong nhiệt cho nên đau nhói; nên uống Tứ
Vật thang (Khôn/21) gia Long đởm, Đan bì; hoặc Tiểu sài hồ thang
(Nhật/37). Mạch hữu quan chủ về mạch hoãn (thổ), nay thấy
mạch thực (hỏa) là trong vị có hư nhiệt đau nhói, nên uống
phương Bồi thổ cố trung thang (Hiệu phỏng/1) gia Bạch thược.
Thực ở xích tiểu tiện nhiều
Bụng đầy trướng tức trăm chiều gian nan.
Mạch tả xích chủ về trầm (thủy), nay thấy mạch thực (hỏa).
Thủy chế được hỏa. Nên uống Phụ tử, Can khương. Mạch hữu xích
là mạch tướng hỏa, nay thấy mạch thực (hỏa) làm thành bụng
trướng mà tiểu tiện không cầm, nên uống Lục vị hoàn (Huyền/2).
Nếu tiểu tiện chưa cầm gia Ích trí. - Mạch huyền: là thuộc dương, ấn nặng dưới ngón tay thì
không đầy đủ; nhấc nhẹ tay thì có thừa, tựa như dây đàn tranh,
thường kèm có mạch sác. Chủ chứng hư lao có phong tà, hay đổ
mồ hôi trộm, chân tay đau mỏi, ngoài lông da khô khan (Huyền là
dương thuộc mộc, làm cho ngũ tạng bị tổn thương, vì mộc khắc
thổ cho nên như vậy).
CA RẰNG
Mạch huyền căng tựa dây đàn
Chân tay mỏi mệt, nóng ran, nóng phiền,
Dưới rốn ba thốn Đan điền.
Tường nên bồi bổ vững bền cho hay.
Mạch huyền căng hình như dây đàn tranh, nó căng và có vẻ
gấp. Mạch huyền thuộc mộc,mộc khắc thổ, tỳ thuộc thổ, chủ về
chân tay, vì bị dương mộc khắc hại, cho nên chân tay nóng. Dưới
rốn ba tấc là Đan điền, là cửa ngõ của âm dương, là nơi căn bản
của con người; tinh thần tụ hợp ở đó. Nếu hộ giúp dương, chặn ém
âm, giữ Đan điền, cho uống bài Bát vị hoàn (Huyền/1).
Mạch thốn bộ thấy khẩn huyền
Là trong lồng ngực liên miên đau chằng.
Mạch tả thốn chủ về hồng (hỏa), nay thấy mạch huyền (mộc)
là mộc hợp với hỏa, có ý muốn khắc kim. Kim đấu tranh ở trong
lồng ngực, nên đau nhói như chằng. Mạch hữu thốn chủ về mạch
sắc (kim) nay thấy mạch huyền (mộc), vì kim hư, mộc tới lấn hại .
Kim vốn là khắc được mộc, mộc không cho kim khắc cho nên
trong ngực đau nhói, nên uống Tiểu sài hồ thang (Nhật/37), hoặc
Tiểu kiến trung thang (Nhật/42).
Quan huyền trong vị có hàn,
Hạ tiêu nước đọng ở Đan điền đầy.
Mạch hữu quan chủ hoãn (thổ), nay thấy mạch huyền là
dương mộc có dư, hay khắc dương thổ. Mộc hóa ra hỏa mà bản
chất thành nhiệt, bị mộc khí làm hại, thì không sinh được nhiệt mà
sinh ra hàn, nên uống Tiêu dao tán (Nhật/11) gia Mẫu đơn, Quế
chi.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy huyền là trong thủy
có mộc, thì thủy cậy có thế của mộc mà không sợ thổ. Thổ không
chế được thủy cho nên đọng nước ở Đan điền, nên uống Ngũ linh
tán (Nhật/29). Mạch hữu xích chủ về tướng hỏa, nay thấy mạch
huyền (mộc), hỏa hư không sinh được thổ để chế thủy, cũng làm
cho nước ở Đan điền, nên uống Truật phụ thang (Nhật/19). - Mạch khẩn: là loại mạch dương. Tìm ấn dưới ngón tay,
thấy chạy suốt cả ba bộ, ấn vào mạch chạy có dư, nhẹ tay thấy
rất sác, tựa như mạch hồng, huyền, gọi là khẩn, chủ về phong khí
phục dương, xông lên hóa bệnh cuồng, (khẩn là dương mộc, phục
dương đi lên làm thành bệnh cuồng, câu nói này hợp lý, các học
giả nên xem xét kỹ). Nên dùng Thanh tâm liên tử thang (Nhật/3).
Nóng quá uống Hoàng liên tả tâm thang (Nhật/20).
CA RẰNG
Mạch khẩn ba bộ sác, huyền,
Chủ về phong khí ở trên chính tà
Sợ kinh cuồng nhảm kêu la
Phải chăm cứu chữa an hòa như xưa.
Đó là 3 kinh dương cùng có bệnh, khẩn sác là mạch Thái
dương, huyền nhiều là mạch của Thiếu dương. Nói cuồng là chứng
của Dương minh cho nên tà thực thì nói sảng; mạch hoạt sác mà
thực, là cái hiện tượng dương khí có thừa chủ về nhiệt, nhiệt thì
sinh ra phong, phát ra chứng nói cuồng nhảm.
Thốn khẩn có bệnh nhức đầu,
Quan khẩn hiện có chứng đau trong lòng.
Mạch tả thốn chủ về hồng (hỏa), nay thấy khẩn (mộc) là hỏa
giúp mộc mà sinh ra phong, nhiệt ở trên cho nên chủ về nhức đầu.
Mạch hữu thốn chủ sắc (kim), nay thấy khẩn (mộc) là kim hư
không bình được mộc cũng làm cho đầu nhức, nên cho uống Tiểu
sài hồ thang (Nhật/37).
Mạch tả quan chủ về huyền (mộc), nay hiện khẩn (mộc) là
mộc thịnh khắc thổ, cho nên sinh ra đau. Mạch hữu quan chủ
hoãn (thổ), nay thấy khẩn (mộc) là mộc đến khắc thổ mà sinh ra
đau, nên uống Thược dược thang (Nhật/21).
Xích khẩn bứt rứt khôn cùng.
Nhói đau quanh rốn, đau không ngớt rời.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay hiện mạch khẩn (mộc).
Mạch hữu xích chủ tướng hỏa, nay hiện khẩn (mộc) là phong nhiệt
ở vào hạ tiêu, làm cho đau bụng; phép chữa có khác nhau; chữa
bệnh tả bằng Quế chi Thược dược thang (Nhật/23). Nếu hàn thấp
ở tỳ vỵ, uống Truật phụ thang (Nhật/19). Chữa bên hữu bằng Lục
vị thang (Huyền/2) gia Đương quy và chút ít Ngô thù. - Mạch hồng: thuộc loại mạch dương; đặt tay vào thấy
chạy rất to, nhẹ tay thấy sức chạy có thừa là mạch hồng. Chủ về
bệnh nhức đầu, chân tay nóng hổi, đại tràng không thông, phân
kết táo bón, miệng khô, khắp mình đau đớn. Nên uống Tứ thuận
Thanh lương ẩm (Nhật/58) để cho hạ.
Mạch hồng là dương hỏa. Ấn tay vào thấy chắc, nâng nhẹ tay
thì thịnh. Mạch hồng là dương thái quá, âm bất cập, chủ về bệnh
nhức đầu, tay chân nóng hổi, khó đi đại tiện, tiểu tiện đỏ ít, đêm
ngủ không yên giấc. Phép chữa dương chứng thì nên cho hạ. Nếu
muốn hạ thì tùy theo chứng trạng hư, thực. Kinh nói: “Mạch phù
không nên hạ; hạ thì chết”. Mạch trầm nên hạ, hạ thì khỏi. Mạch
phù bệnh ở biểu, mạch trầm bệnh ở lý.
CA RẰNG
Mạch hồng vốn nó thuộc dương,
Gặp tuần cuối hạ thì thường chẳng chi,
Gặp tiết đông hoặc hạ kỳ,
Phải nên phát hãn thông đi mới toàn.
Mạch hồng thuộc loại mạch dương; vượng về mùa hạ là mạch
của tâm kinh. Mạch đó to, nếu to quá thì chủ về bệnh phong
nhiệt. Như đến tháng sáu, tâm hỏa dần dần rút, có tỳ thổ che chở
thì nhiệt sẽ rút. Nếu gặp vào tháng chín và tháng 12, phục dương
ở trong, bên ngoài bị phong hàn là biểu lý đều nhiệt, nên phải
phát hàn; hoặc phải khơi thông trường vị thì nhiệt mới rút được.
Thốn hồng trong ngực nóng ran,
Quan hồng Phiên vị ăn vào mửa ra.
Bản vị của mạch tả thốn đã hồng (hỏa), lại gặp lúc thấy mạch
hồng (hỏa) là trong lồng ngực rất nóng. Mạch hữu thốn chủ sắc
(kim), nay thấy hồng (hỏa) là kim hỏa hợp lại, hỏa thịnh thì kim
phải suy, là nhiệt ở phế, nên uống Đại sài hồ thang (Nhật/38).
Mạch tả quan chủ huyền (mộc), nay hiện mạch hồng (hỏa) là
mộc với hỏa hợp lại, là phong nhiệt lấn vào vỵ, ăn vào mửa ra.
Mạch hữu quan chủ hoãn (thổ), nay thấy hồng (hỏa) là thổ hỏa
hợp nhau, trong vị nóng dữ cũng thành chứng phiên vị, uống Điều
trung thang (Nhật/59) gia giảm. Nhưng dùng thuốc mát thì không
nên vội vàng táo bạo quá.
Xích hồng đái gắt khó ra
Hai chân đau nhức xót xa khôn cầm.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy mạch hồng (hỏa). Hữu
xích là mạch tướng hỏa, nay thấy mạch hồng (hỏa) là chủ và
khách đều là hỏa. Hỏa gặp tướng hỏa thì không làm được việc.
Tam tiêu mất trách nhiệm khơi thông, nên tiểu tiện đỏ ít, hai chân
đau nhức. Mạch bên hữu mà hồng hơn bên tả, thì uống Trạch tả
tán (Nhật/65) gia giảm.
Mạch bảy biểu ở trên tuy đều thuộc dương. Song trong dương
có âm, cũng có khi dùng thuốc nóng, khi dùng thuốc không nên
câu chấp một chiều, để khỏi nhầm lẫn.
XVII. TÁM MẠCH LÝ
(nên tham khảo với mạch bát lý ở trên mục XXXIII) - Mạch vi: là loại mạch âm rất nhỏ. Ấn ngón tay vào thấy
mạch đập rất nhỏ, xem đi xem lại rất kỹ thì thấy phảng phất như
có như không, nên gọi là vi. Mạch này chủ về có bại huyết chảy ra
không ngớt, sắc mặt không tươi sáng.
(Mạch vi là âm thổ. Tượng của mạch vi là mùa thu đông, và là
nét ảm đạm của phần âm, âm thái quá thì dương bất cập, đó là
huyết không được giữ vững là mộc thắng hỏa. Huyết không ngừng
thì dùng Hương khung thang (Nhật/6). Phụ tử lý trung thang
(Nhật/41)).
CA RẰNG
Ấn vào như có như không
Quanh co máu chảy ở trong tiểu tràng,
Băng lậu bạch đới lại mang,
Không ngừng lậu hạ tủy xương khô dần.
Đó là thận khí mệnh môn suy yếu. Mệnh môn của nam giới
để tàng tinh, của nữ giới để giữ dạ con. Chứng băng lậu bạch đới
là mệnh môn bị hại. Kinh nguyệt băng xuống quá nhiều gọi là
chứng xương khô. Chữa đàn bà thì lấy Phục long can tán (Nhật/9),
đó là vì huyết không giữ gìn được, thủy thắng hơn hỏa. Lại nói:
Huyết hao tinh hết, gân xương đều tổn thương, trong xương không
có tủy, xương không theo gân, vì gân xương thương tổn mà thành
ra thân hình khô khan. Nội kinh nói: âm làm ra hình, nó nuôi
huyết. Bổ hư tổn cho chứng này nên dùng Đương quy thược dược
thang (Nhật/7), có chỗ nói không bằng dùng Bát vị hoàn
(Huyền/1) làm chủ yếu.
Thốn vi là khí thượng xâm,
Quan vi uất khí kết tâm buồn đầy.
Mạch thốn chủ hồng (hỏa), nay thấy mạch vi (thổ) là khí xông
ngược lên. Mạch hữu thốn chủ sắc (kim), nay thấy vi là âm thịnh
dương suy, hơi bít vào không tới can thận. Nên dùng Cách khí tán
(Nhật/66). Mạch vi ở thượng tiêu; lại nói là phế khí xông lên, nên
uống Bổ phế tán (Nhật/25), lại chữa được hạ lao. Mạch tả quan
chủ về huyền (mộc), nay thấy mạch vi (thổ) là thổ vào bộ vị mộc,
thì mộc bị uất không thoải mái. Mạch hữu quan chủ về hoãn (thổ),
nay thấy mạch vi (thổ) là hai thổ hợp lại thì sẽ tụ lại mà không tan
ra, đều là do cái khí uất kết của thổ tà gây nên mà công kích lên
tâm, nên dùng Quân khí tán (Nhật/26) hoặc Phụ tử lý trung thang
(Nhật/41).
Xích vi dưới rốn tích đầy
Lạnh mình uống nước đêm ngày kêu rên.
Dưới rốn tích đầy là chứng Bôn đồn. Mạch tả xích chủ trầm
(thủy), nay thấy vi (thổ) là thủy thổ hợp lại, âm khí thịnh quá cho
nên mình lạnh. Thổ khắc được thủy nên muốn uống nước, kêu rên
là tiếng của thận, khi thận bị bệnh thì sinh kêu rên. Mạch hữu xích
chủ về tướng hỏa, nay thấy mạch vi (thổ) là hỏa thổ hợp nhau; âm
thịnh dương suy, nên uống Nhất khí thang (Tâm đắc/1), Bát vị
hoàn (Huyền/1) bội Quế Phụ. - Mạch trầm: là loại mạch âm, ấn nặng ngón tay thì thấy,
nhấc nhẹ tay thì không thấy, phải qua hai mức nhẹ tay và mức
trung bình ấn vào tới sâu mới thấy, tựa như sờ vào bông nát, đó là
mạch trầm chủ về bệnh khí trướng, chân tay thường lạnh. Mạch
trầm dính sát vào gân cốt; là hiện tượng giá lạnh, dương khí không
thư thái, chủ về hư khí xông lên tâm buồn tức nhưng không đau;
uống Kiện vỵ lý trung thang (Nhật/40), Kiến trung thang
(Nhật/43), chân tay giá lạnh, uống Phụ tử lý trung thang
(Nhật/41).
CA RẰNG
Ấn thì có, nhấc như không,
Hư trong tạng phủ, đầy vùng tam tiêu.
Ba nơi khí lạnh chẳng đều
Thông tràng kiện vị cho tiêu mới lành.
Ấn vào thì thấy có, nhấc tay lại chẳng thấy gì là mạch trầm.
Tam tiêu là ba bộ: thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu. Khí đầy ở
tam tiêu không vận chuyển được tới tạng phủ, kinh lạc, khí hư thì
hàn khí không điều hòa mà 3 bộ vị sinh ra ủng trệ. Tam tiêu phải
nhờ cái khí của thức ăn ở vị để nuôi sống, thông đường ruột là để
đẩy chất cũ ra làm mạnh dạ dày để tiếp thu chất mới vào, thì khí
tam tiêu mới được đầy khắp mà mạch sẽ không bị trầm nữa. Muốn
thông tràng dùng Cục phương ô bạch hoàn (Nhật/67), kiện vỵ cho
uống Lý trung thang (Nhật/40).
Thốn trầm lồng ngực có đờm,
Quan trầm hơi ngắn đau lòng khó khăn.
Mạch tả thốn chủ hồng (hỏa), nay thấy trầm (thủy) là thủy
hỏa hợp lại, biến thành chứng đàm thực. Mạch hữu thốn chủ sắc
(kim), nay thấy hiện trầm (thủy) là kim thủy hợp lại lưu đọng trong
ngực, cũng biến làm đờm, uống Hóa đờm ngọc hồ hoàn (Nhật/57)
gia Hùng hoàng, hoặc Bán hạ hoàn (Nhật/30), hoặc Lục quân tử
thang (Khôn/12) gia Hoàng kỳ.
Mạch tả quan chủ về huyền (mộc), nay thấy mạch trầm
(thủy) là mộc thủy hợp lại, đưa lạnh vào trong xương. Mạch hữu
quan chủ về hoãn (thổ), nay hiện mạch trầm (thủy) là thổ hợp với
thủy, ở trung tiêu sẽ có lạnh thì đau. Nên uống Chỉ thống hoàn
(Nhật/31), hoặc Ngũ quân tử thang gia Quế (Nhật/68).
Xích trầm nặng cả lưng chân,
Đái như nước gạo đã luôn lại nhiều.
Mạch tả xích chủ và khách đều trầm (thủy) là khí hàn có
thừa, mạch hữu xích chủ tướng hỏa, nay thấy mạch trầm (thủy) là
hỏa thủy hợp lại, thủy khắc hỏa mà thành ra hàn thịnh. Mệnh môn
tam tiêu bị bại hoại mà hư, cho nên tiểu tiện đi ra sắc trắng như
nước vo gạo. Nên uống Bát vị hoàn (Huyền/1) bội Quế Phụ để
chữa. Một phép dùng Hoàng kỳ thang. - Mạch hoãn: thuộc âm, là nhịp đập thong thả, ấn tay vào
thấy đi lại đủng đỉnh chậm chạp; nhưng không chậm chạp bằng
mạch trì gọi là mạch hoãn. Chủ về chân tay phiền đầy, hơi thở gấp
không yên. Cho uống Chỉ truật thang (Nhật/13) làm chủ.
CA RẰNG
Mạch hoãn gần giống mạch trì,
Thận sinh trệ khí, tai thì ù kêu,
Phong tà tích lại lưng đau
Châm sau phía gáy bệnh hầu tiêu tan.
Bệnh thái dương trúng phong, mạch hoãn, cổ gáy cứng đờ
khó quay trở được. Nếu mạch hoãn đại là thuộc tỳ mạch.
Thốn hoãn cổ gáy cứng đờ
Quan hoãn khí kết ắt là bụng đau.
Mạch tả thốn chủ hồng (hỏa), nay thấy hoãn (thổ), hỏa thổ
hợp lại trong hỏa có thổ, không bị sợ thủy, thì hỏa lại càng làm dữ
mà hại kim. Hỏa quá mạnh thì sinh nhiệt, nhiệt tức sinh phong,
phần nhiều vào từ lối huyệt Phong phủ, co nên gân ở cổ gáy co
cứng. Mạch hữu thốn chủ sắc (kim), nay thấy mạch hoãn (thổ) là
kim hợp với thổ, kim hư không bình được mộc, phong tà làm
thương vệ cho nên co rút gân cổ. Nên uống Trừ thấp thang
(Nhật14).
Mạch tả quan chủ huyền (mộc), nay thấy mạch hoãn (thổ) là
mộc hợp vào với thổ, can hư thấp thịnh nhiều, phép chữa nên bổ
can trừ thấp. Mạch hữu quan chủ khách đều hoãn (thổ) là tỳ thấp
quá nhiều, vỵ cũng bị thương, nên uống Nhất khí thang (Tâm
đắc/1) hoặc Kiến trung thang (Nhật/43). Khí kết trong bụng không
đuổi ra được uống Ô bạch thang hoặc hoàn (Nhật/67)
Xích hoãn kết lạnh, trưng hà
Đêm nằm mơ quỷ, thấy ma theo người.
Nên uống Ngũ linh tán (Nhật/29) gia Thương truật. Mạch tả
xích chủ trầm (thủy), nay thấy hoãn (thổ) là thủy thổ hợp lại, cho
nên thành bệnh hàn, vì âm thịnh thì mộng thấy quỷ. Mạch hữu
xích chủ về tướng hỏa, nay thấy mạch hoãn (thổ), hỏa thổ hợp lại
thành ra dương thổ khí rất thịnh, tướng hỏa không làm được trách
nhiệm, hơi lạnh kết lại, hạ nguyên lạnh dữ, cho nên đêm ngày mơ
thấy quỷ. - Mạch sắc: thuộc âm, ấn ngón tay thấy có mạch, nhấc nhẹ
tay thì không thấy gì, trước hư sau thực, không có thứ tự là mạch
sắc. Chủ về khắp mình đau nhức. Đàn bà có thai thì đau bụng
nghén, không có thai thì là có bệnh bại huyết. Mạch sắc là âm
kim, là tinh khí đều bị tổn thương.
CA RẰNG
Mạch sắc như dao gọt tre
Đàn ông mạch sắc chủ về thương tinh
Có thai trong dạ chẳng lành,
Không thai huyết bại mà thành hư suy.
Mạch sắc chủ về bệnh bị hao huyết mất tinh, đàn bà có bệnh
thai hoặc có chứng xích bạch đới hạ, hoặc bại huyết, nên uống Tứ
vật (Nhật/69) của Cục phương Địa hoàng hoàn (Huyền/2), bị hao
mất tinh thì uống Long cốt hoàn (Nhật/70) hoặc Lục vị hoàn
(Huyền/2) gia các vị cố sáp.
Thốn sắc vị khí tràn lên
Quan sắc bại huyết liên miên chẳng ngừng.
Mạch tả thốn chủ hồng (hỏa), nay thấy mạch sắc (kim) là kim
tới lấn hỏa, như thế biết là hỏa không đầy đủ mà kim khinh nhờn,
cho nên vị khí tràn lên trên, nên uống Quy tỳ thang (Khôn/15).
Mạch tả quan chủ về mạch huyền (mộc), nay thấy mạch sắc
(kim) là kim mộc hợp nhau, bại huyết không ngớt. Mạch hữu quan
chủ về mạch hoãn (thổ), nay thấy mạch sắc (kim), kim hợp với thổ
là thực tà, kim khí làm tổn thương vạn vật, phép chữa nên tả phế.
Xích sắc lạnh giá đôi chân,
Lạnh mình dưới rốn sôi ran ầm ầm.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy) nay hiện mạch sắc (kim) là kim
thủy hợp với nhau, âm khí thịnh, dương khí bị suy hư, cho nên
huyết lạnh. Mạch hữu xích chủ tướng hỏa, nay hiện mạch sắc
(kim) là hỏa với kim hợp lại, dương khí ở trong hư, âm khí có thừa,
cho nên sinh ra lạnh giá, hư và hàn cùng va chạm làm ra chứng
sôi bụng. Nên uống Sâm phụ Lý trung thang bội Bạch truật. - Mạch trì: thuộc âm, ấn nặng ngón tay mới thấy mạch lờ
đờ là mạch trì. Chủ về bệnh thận hư không yên ổn. Trì là âm thổ,
âm thịnh dương suy thì vinh vệ bị ngừng trệ, làm cho khí bị ngăn
trở. Cho nên mỗi hơi thở mạch chỉ đến 3 lần, là mạch trì. Tâm thận
giao thông được với nhau là do có thủy hỏa giúp đỡ nương tựa lẫn
nhau. Nay dương bị suy thì tâm khí không xuống giao với thận
được, âm khí thịnh thì hợp với thận khí hư mà tạng phủ không
vinh nhuận được cho nên tam tiêu bị bế tắc, vinh vệ vướng đọng,
sẽ thành bệnh ra mồ hôi lạnh, khớp xương đau, da thịt gày đen,
lạnh mình đau bụng, nên uống Lý trung thang. Nếu ra mồ hôi
lạnh, chân tay khớp xương đau, nên uống Bổ chính thang
(Khôn/54).
CA RẰNG
Mạch trì gặp lúc gian nan
Tới tuần cuối hạ khó toàn được đâu,
Xét xem mùa chẳng hợp nào
Mạch trì chân thủy khô khan đó mà.
Mạch trì là âm, tiết cuối hạ là dương, mạch đó là mạch trái
mùa, dương thịnh âm hư, phép chữa nên tả tâm phế, bổ can thận.
Tả tâm phế nên uống Đạo xích tán (Nhật/33). Bổ can thận uống
Địa hoàng hoàn (Huyền/1), cuối mùa hè thấy mạch trì, là thổ khắc
thủy, cho nên bệnh khó khỏi.
Mạch thốn trì thượng tiêu hàn
Quan trì khó uống đau ran trong lòng.
Mạch tả thốn chủ hồng (hỏa), nay thấy trì (thổ) là hỏa thổ
hợp lại, âm đến lấn dương. Mạch hữu thốn chủ sắc (kim), nay thấy
mạch trì (thổ) là kim thổ hợp lại, làm thành hàn thấp ở thượng
tiêu, cho nên nói là trên vùng thượng vị có hàn, phép chữa nên lấy
Quất bì hoàn (Nhật/39), nếu không khỏi cho uống Truật phụ thang
(Nhật/19).
Tả quan chủ mạch huyền (mộc), nay thấy mạch trì (thổ) là
mộc thổ hợp lại làm cho đau bụng dữ. Mạch hữu quan chủ về
mạch hoãn (thổ), nay thấy mạch trì (thổ) là hai thổ hợp với nhau,
âm hàn rất nhiều thì trong bụng đau, nên uống Quế chi gia Phụ tử
thang (Nhật/15).
Xích trì nặng trĩu chân lưng
Rét run mền đắp mấy tầng chưa yên.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy trì (thổ) là thủy thổ
hợp lại; hàn thấp ở hạ tiêu. Mạch hữu xích chủ mạch tướng hỏa,
nay thấy mạch trì (thổ) là hỏa thổ hợp lại thì âm thịnh dương suy,
nên uống Phụ tử Lý trung thang (Nhật/41). - Mạch phục: thuộc âm, ấn sát tay vào mà tìm thì tựa như
có, nhận định theo hơi thở mà tìm thì hoàn toàn không, tìm cho
thật kỹ vẫn thấy ở trong 3 bộ là mạch phục. chủ về khí độc bế tắc
cả 3 bộ, chân tay nặng trĩu thường khi có lạnh. Phục là âm mộc.
Mạch phục tìm không thấy, ấn nặng tay mới thấy động, nhưng
không rời chỗ.
Thốn phục tích khí trong lòng
Quan phục bệnh tý mắt trong quang mờ.
Mạch tả thốn chủ hồng (hỏa) lại thấy phục (mộc) là hỏa và
mộc hợp với nhau, âm tới lấn dương, chủ về bệnh khí; mạch hữu
thốn chủ sắc (kim), lại thấy phục (mộc), kim và mộc hợp với nhau
chủ giận quá mức mà tức ngực, nên dùng Trầm hương hoàn
(Nhật/16) mà chữa.
Mạch tả quan chủ huyền (mộc), nay thấy phục (mộc), mộc
mộc gặp nhau chủ về bệnh khí tụ ở trung tiêu không tan đi; là có
khí phong thấp. Mạch phục cả hai bên tả hữu đều chủ về bệnh lỵ,
mắt choáng váng, nên uống Ngũ cách khoan trung tán (Nhật/44).
Xích phục ăn kém đầy no
Bụng đau quằn quại chẳng cho nằm ngồi.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy mạch phục (mộc);
thủy mộc hợp lại, là phong hàn ở dưới. Mạch hữu xích chủ tướng
hỏa, nay thấy mạch phục (mộc) mộc hỏa hợp với nhau, là mộc
thịnh khắc thổ. Hai mạch phục đều sinh ra bệnh đau bụng, nên
nằm ngồi không yên, nên uống Tứ bạch thang (Nhật/71). - Mạch nhu: thuộc âm, ấn ngón tay vào tìm tựa như có, lần
lần trở lại ấn như trước lại đi là mạch nhu, chủ về sức kém, ngũ
tâm phiền nóng, ù tai choáng óc, hạ nguyên rất lạnh, mạch nhu là
âm (kim); ngũ tâm là hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và trước
ngực.
CA RẰNG
Ấn thì thấy, nhẹ thì không
Là khô tủy hải[86] và trong Đan điền
Chân tay gân cốt nóng phiền
Hết vòng tạng phủ bệnh truyền sẽ nguy.
Tủy là chủ về thận, chân tay và trong xương nóng là thận đã
suy kiệt. Truyền hết vòng là bệnh truyền đến vòng thổ, thổ khắc
thủy thì sẽ chết.
Thốn nhu đổ nhiều mồ hôi
Quan nhu khí ít tả tơi tinh thần
Mạch tả thốn hồng (hỏa), nay lại thấy nhu (kim), hỏa với kim
hợp thì khí hư không bảo vệ được bên ngoài cho nên nhiều mồ
hôi. Mạch hữu thốn chủ sắc (kim), nay lại thấy nhu (kim) là kim vơi
kim hợp lại, cũng chủ về bệnh nhiều mồ hôi.
Mạch tả quan huyền (mộc), nay thấy mạch nhu (kim) là mộc
và kim hợp với nhau, là mộc không đủ sức để nuôi con (hỏa) và
giúp cho mẹ (thủy) mà sinh ra chứng tinh thần tán loạn. Mạch hữu
quan chủ hoãn (thổ), nay thấy mạch nhu là thổ hợp với kim; thổ
chỉ lo bù đắp cho con mà không phục được thù cho mẹ. Kim có thổ
mà không nuôi dưỡng được con (thủy) làm cho tinh thần bị hao
tán mất đi. Cách chữa bệnh nên dùng Tứ quân tử thang (Khôn/10)
bội Phục linh.
Xích nhu lướt mướt sợ hàn
Thịt xương rời rạc hoàn toàn xa nhau.
Lướt mướt là hiện tượng mềm yếu. Sợ hàn lạnh là vì dương bị
thoát mất.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy mạch nhu (kim) là
thủy kim hợp lại thì tâm không sinh được huyết, can không tàng
được huyết, tỳ không thâu giữ được huyết, nên xương thịt mỗi thứ
một nơi không giằng giữ lấy nhau được. Mạch hữu xích chủ tướng
hỏa, nay thấy nhu (kim), hỏa kim hợp lại, khí bị hao tán, nên
xương thịt không giữ gìn được khăng khít cho nhau, đó là loại
mạch chết, nên không ghi phép chữa. - Mạch nhược: thuộc âm, là loại mạch không mạnh, ấn
nặng tay tìm kỹ thì tương tự như sờ trong bông nát, nhấc nhẹ tay
lại không thấy, ấn nặng tay hơn trước lại không thấy rõ ràng, nhè
nhẹ không lên gọi là mạch nhược. Chủ về khí hư ở phần biểu, sau
khi sinh phong tà phạm vào cơ thể làm cho mặt sưng lên; mạch
nhược là âm kim, biểu là ngoài da.
CA RẰNG
Ấn vào nhè nhẹ không lên
Bởi phong tà lẫn vào bên khí phần,
Mạch này kỵ với tuổi xuân,
Còn như già cả mười phân an toàn.
Mạch tượng như thể sờ vào bông nát, là dương khí yếu, tượng
mạch nhỏ như lông, khí huyết tổn thương rất nhiều, nhè nhẹ là sờ
vào nhẹ tay thì thấy, ấn nặng vào lại chẳng thấy gì. Người tuổi trẻ
mà thấy bệnh này là bệnh rất nặng. Bởi vì người tuổi trẻ khí lực
còn đương phơi phới như mùa xuân, mùa hạ, thì mạch phải hồng
đại, hữu lực mới đúng. Nay lại thấy mạch vô lực và không nổi lên
được cho nên biết là bệnh nặng, vì mạch không hợp với tuổi trẻ là
nghịch. Người tuổi già gặp thấy mạch này thì bệnh dễ khỏi. Vì
người già tựa như khí hậu mùa thu mùa đông. Cho nên hễ gặp loại
mạch nhỏ nhẹ như vậy là thuận.
Mạch thốn nhược, chứng dương hư,
Quan nhược thì khí lơ thơ, tan tành.
Mạch tả thốn vốn hồng (hỏa), nay thấy nhược (kim), hỏa hợp
với kim là tâm khí hư. Mạch hữu thốn vốn là sắc (kim), nay lại
nhược (kim), kim gặp kim, kim khí nhiều nên dương hư, nên uống
Ngũ bổ hoàn (Nhật/56), Tứ nghịch thang (Nhật/72).
Mạch tả quan chủ huyền (mộc), nay thấy mạch nhược (kim),
mộc hợp với kim với nhau là can khí hư. Mạch hữu quan chủ hoãn
(thổ), nay thấy mạch nhược (kim), thổ với kim hợp lại, thì khí hạ
tản mát, nên uống Ích hoàng tán (Nhật/55) Bình vị tán (Nhật/34),
lựa chọn mà dùng hai phương đó đều chủ trị cho mạch bên hữu
nhược.
Mạch xích nhược, tuyệt âm rành
Ngoài da đau buốt, tan tành khí dương.
Mạch tả xích chủ trầm (thủy), nay thấy mạch nhược (kim) là
thủy hợp với kim; kim yếu sinh được thủy, nên thận khí ở trong
hết mà dương khí chạy tán loạn ra ngoài. Mạch hữu xích chủ
tướng hỏa, nay thấy mạch nhược (kim) hỏa hợp với kim, là dương
thịnh âm hư tuyệt; đau buốt ở ngoài da, là do mạch tam tiêu chỉ
còn dương lẻ loi không thể giữ gìn được một mình, nên lìa thoát
khỏi vị trí, không có thể chữa được.
